I. Thế giới như một mạng lưới

Cơ thể của vạn vật đều được cấu thành bởi ba phần, là thông tin, năng lượng và vật chất.

Trong số đó, năng lượng là thứ kết nối thể thông tin với thể vật chất, và liên kết các mảnh thông tin với nhau.

Ba thể của một vật luôn tồn tại cùng nhau và thay đổi cùng nhau. Mọi thay đổi, dù là nhỏ nhất, trong thể thông tin, năng lượng hoặc vật chất của một vật, sẽ lập tức tạo nên thay đổi tương ứng trong hai thể còn lại của vật đó.

Thêm vào đó, các thể của vạn vật đều không tồn tại biệt lập, mà liên kết với nhau thành một mạng lưới. Thế giới được tạo thành từ các mạng lưới vật chất, năng lượng và thông tin. Mỗi con người, sự vật và hiện tượng đều chỉ là một tập hợp các nút thắt trong các mạng lưới này. Sống là quá trình trao đổi vật chất, năng lượng và thông tin giữa các nút thắt.

Như vậy, mọi thay đổi, dù là nhỏ nhất, trong tâm trí, cảm xúc hoặc hành vi của một người, đều tác động mạnh mẽ đến thế giới xung quanh.

Quá trình tác động này được gọi là thay đổi thực tại.

 

II. Hai cách định nghĩa thực tại

Trong tiếng Hán, chữ Tại (在) hàm ý ‘chỗ ở’, ‘chỗ dựa’, cả về không gian lẫn thời gian. Ngoài ám chỉ sự đúng, sự thật, chữ Thực (實) còn chỉ sự chắc đầy, không có chỗ cho khoảng trống. Như vậy, trong cái nhìn của văn hóa Hán, thực tại là một môi trường không gian và thời gian mà chúng ta cho là chắc chắn, chân thật, và vì thế, chọn nó làm nơi để ở, sống, hoặc dựa vào.

Trong tiếng Anh, từ ‘reality’ phát sinh từ chữ ‘real’, nghĩa là có thật. ‘Real’ bắt nguồn từ ‘rēs’ trong tiếng Latin cổ và ‘reis’ trong ngôn ngữ cổ Ấn – Âu, cả hai đều chỉ những đồ vật, tài sản mà mình sở hữu. Nói cách khác, dưới góc nhìn này, những gì có thật là những gì của ta, chắc chắn thuộc về ta.

Như vậy, ngôn ngữ Hán và ngôn ngữ Anh – Mỹ tiếp cận vấn đề thật- giả từ hai hướng khác nhau. Tiếng Hán cho rằng cái có thật là cái được ta nhận thức đầy đủ, còn tiếng Anh cho rằng cái có thật là cái quan hệ với ta một cách chắc chắn. Tiếng Hán đề nghị con người sống trong, và sống dựa vào nhận thức về thế giới xung quanh. Còn tiếng Anh đề nghị con người sống trong, và sống dựa vào mối quan hệ với các sự vật trong thế giới.

Vì hai ngôn ngữ đề nghị người dùng nhận thức và hành động theo hai hướng khác nhau, chữ ‘thực’ trong tiếng Hán và chữ ‘real’ trong tiếng Anh chưa chắc đã biểu đạt cùng một nội dung. ‘Thực’ và ‘real’ có thể là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau, không hề đồng nghĩa. Vì vậy, ta không nhất thiết chỉ được chọn một trong hai. Tùy từng hoàn cảnh, ta có thể chọn một trong hai khái niệm đó cho quá trình suy nghĩ và giao tiếp của mình, miễn là lựa chọn này giúp ta đạt được điều mình muốn. Quan trọng là không lẫn lộn giữa ‘real’ và ‘thực’, và biết mình muốn gì.

Vì bài này đặt vấn đề nhận thức, nên chúng ta sẽ sử dụng khái niệm ‘thực tại’ trong tiếng Hán.

 

III. Bản chất của thực tại

Nếu nhìn thế giới như một mạng lưới thông tin, năng lượng, vật chất, và sử dụng khái niệm thực tại của tiếng Hán để nhìn nhận, chúng ta sẽ định nghĩa thực tại theo cách như sau:

  • Mỗi thực tại là một môi trường thông tin, năng lượng, vật chất có khả năng bao phủ và chi phối một vùng không – thời gian.
  • Vì thế giới là một mạng lưới thông tin, năng lượng, vật chất liên tục tương tác qua lại với nhau, thực tại không phải thứ sẵn có, bất biến và hằng tồn, mà là thứ được người này tạo ra và kẻ kia phá hủy.
  • Vì con người có nhu cầu khác nhau, cần được lấp đầy bằng những cách khác nhau, phù hợp với những môi trường khác nhau và nhận thức về thế giới theo những cách khác nhau, họ sẽ tạo ra nhiều thực tại khác nhau để làm nơi sinh sống. Như vậy, thế giới có nhiều thực tại đồng tồn.
  • Vì một người có thể cùng lúc theo đuổi nhiều nhu cầu khác nhau, sống trong nhiều môi trường khác nhau và nhận thức thế giới qua nhiều lăng kính lý thuyết khác nhau, mỗi người có thể cùng lúc sống trong nhiều thực tại. Nói cách khác, các thực tại đồng tồn không nhất thiết phải chiếm các vùng không – thời gian hoàn toàn tách biệt. Thay vào đó, chúng thường đan xen, giao hòa hoặc nằm chồng lấn lên nhau trong cùng một vùng không – thời gian mà con người nhận thức và tương tác.
  • Vì mỗi thực tại là một môi trường, mỗi thực tại đều có hệ tiêu chuẩn, luật chơi và màu sắc riêng để chi phối các cư dân sống bên trong. Ta chấp nhận hệ tiêu chuẩn, luật chơi và màu sắc của môi trường nào thì trở thành cư dân của môi trường đó. Như vậy, thực tại không phải là “đạo trời” hay “qui luật tự nhiên khách quan”. Mỗi thực tại chỉ là một trong số những màu trời mà chúng ta tình nguyện đội lên đầu, một trong số những luật chơi mà chúng ta lựa chọn tuân thủ.
  • Vì mỗi thực tại là một môi trường, thực tại sẽ đồng hóa các cư dân sống trong nó. Tuy nhiên, vì con người có thể tác động vào môi trường sống, thực tại có thể bị thay đổi bởi các cư dân.
  • “Thực tại khách quan” – tức thực tại không lệ thuộc vào cảm giác và suy nghĩ của con người, chỉ tồn tại trong thế giới quan thuần vật chất. Khi nhìn thế giới như một mạng lưới thông tin, năng lượng và vật chất trao đổi liên tục với nhau, ta sẽ phải thừa nhận rằng mọi ghi nhận trong thể thông tin, và mọi rung động trong thể năng lượng của một người đều sẽ để lại thay đổi tương ứng trong thể vật chất của người đó. Cùng lúc, thông qua hiện tượng cộng hưởng, nó cũng lan tỏa sự thay đổi đó tới thể năng lượng của môi trường xung quanh, qua đó gián tiếp ảnh hưởng tới thể thông tin và vật chất của môi trường xung quanh. Nói cách khác, dù ta chỉ quan sát, suy nghĩ và hình thành thái độ về những thực tại quanh mình, ta cũng đang thay đổi những thực tại đó.

 

IV. Kiến tạo và lưu trữ thực tại

Mọi hoạt động sống của ta đều tác động tới thực tại quanh ta. Cách ảnh hưởng và phạm vi ảnh hưởng của mỗi người mỗi khác. Phạm vi này lớn hay nhỏ, chủ yếu phụ thuộc vào tầm vóc, sức mạnh, thẩm quyền của ta, và độ sâu của các mối quan hệ mà ta tham dự.

Osho cho rằng chỉ riêng sự hiện diện của một người thức tỉnh cũng đã đem lại chuyển biến tích cực cho những người xung quanh.

Vì hoạt động sống của người đứng đầu quốc gia ảnh hưởng nặng đến thực tại quốc gia, sách Lã Thị Xuân Thu coi mọi suy nghĩ, phát ngôn và sinh hoạt của vua như nghi lễ.

Duy trì thực tại thông qua lời nói hành động – việc mà thời nay được gọi là “làm gương” hay “truyền cảm hứng” – là chức năng chính của các anh hùng chiến tranh, người trưởng tộc, vua chúa, giáo chủ, hay các thủ lĩnh phong trào… Tuy nhiên, nếu không có một phương thức vật lí phù hợp để lưu trữ phần năng lượng và thông tin của thực tại mà họ tạo ra, những thực tại đó sẽ trôi qua và bị lãng quên ngay khi hành động chấm dứt. Vì vậy, vào buổi đầu lịch sử, khi dùng thi ca để kể các thần thoại, con người đã tạo ra phương thức đầu tiên để lưu giữ những thực tại chung.

Khi tính cá nhân tăng dần trong thi ca, việc kiến tạo và lưu trữ thực tại dần được cá nhân hóa, và độ đa thực tại của thế giới cũng tăng dần.

Dưới đây là những cách kiến tạo và lưu trữ thực tại quan trọng trong thế giới mà chúng ta đang sống:

  1. Tôn giáo

Các thực tại tôn giáo bao gồm:

– Các hệ thống đức tin. Chúng khiến tín đồ có một quan điểm đồng nhất về nguồn gốc và bản chất của thế giới, nguồn gốc và bản chất của linh hồn, đúng và sai, mục đích của cuộc sống…

– Các loại cõi âm, cõi trần và cõi trời, được lưu trữ trong các bộ kinh, tranh tượng và đền thờ, vận hành bằng nghi lễ, đồ hình, thần chú, và nuôi dưỡng bằng cả năng lượng,tâm trí lẫn thể xác của những kẻ tin theo.

– Các “ngân hàng số mệnh” – như hệ thống duyên nghiệp, lá số, hoặc hệ thống sắp đặt đầu thai. Chúng thao túng mối liên hệ thông tin – năng lượng giữa các linh hồn bằng cách xóa ký ức của họ, triệt hạ các mối liên hệ tự nhiên giữa họ với nhau, cưỡng bức họ gia nhập một hệ thống lưới thông tin – năng lượng mà chúng kiểm soát hoàn toàn, rồi định đoạt năng lực, may rủi, thái độ sống và các mối quan hệ của họ thông qua việc điều chỉnh các mối dây trên mạng lưới đó.

  1. Các hệ chuẩn mực, luân lí và pháp luật

Các hệ chuẩn mực giúp ta phân loại, đánh giá và sắp xếp vị trí phù hợp cho những con người, sự vật, hiện tượng xung quanh. Luân lí và pháp luật thiết lập và duy trì những mối liên hệ phù hợp giữa các vị trí đó.

  1. Các học thuyết khoa học

Là kết quả của những cố gắng lý giải một phần thế giới bằng phương pháp khoa học. Ngày nay, khoa học đang soán ngôi vị cũ của tôn giáo trong việc định hình thực tại bằng cách chi phối niềm tin số đông. Trong thực tế, thực tại của các kết luận khoa học hiếm khi được trải nghiệm một cách trực tiếp, đầy đủ và nguyên vẹn, mà thường  gián tiếp lan tỏa đến đông đảo công chúng thông qua nhiều phương thức khác, như nghệ thuật, giải trí và công nghệ.

  1. Các chủ nghĩa

Nếu ta hay các thần linh vô hình bằng các khái niệm trừu tượng – như Tổ quốc, giai cấp, nhân quyền, công lý, bình đẳng, tự do…, ta sẽ nhìn mỗi chủ nghĩa như một đức tin lén lút.

  1. Kiến trúc, qui hoạch và thời trang

Đã có nhiều khảo sát cho thấy trang phục định hình tính cách, và cách sắp đặt nhà cửa tác động mạnh đến hoạt động của tâm trí con người. Đây là điều dễ hiểu.

Về bản chất, trang phục – một lớp vỏ vật lí và năng lượng mà ta khoác thêm cho cơ thể – sẽ tác động mạnh tới các mối dây liên hệ giữa ta và người khác, giữa ta và các thực tại bên ngoài, thậm chí giữa ta với các thực tại tự tạo trong ta.

Cách phân loại và sắp đặt các đồ vật trong môi trường sống sẽ ảnh hưởng tới thói quen sắp xếp và phân loại thông tin của trí não, đồng thời định hình các dòng chảy và điểm đọng năng lượng trong không gian.

Để biết lối quy hoạch chi phối tâm trí, cảm xúc và thể chất của con người như thế nào, chỉ cần tham gia giao thông ở Hà Nội.

  1. Ẩm thực

Đồ ăn thức uống trực tiếp cung cấp nguyên liệu để cấu thành năng lượng và thể chất của ta. Vì vậy, đây là một trong những cách thức tối quan trọng để điều chỉnh thực tại bên trong con người.

  1. Các loại hình nghệ thuật

Ngay từ buổi đầu lịch sử, nghệ thuật đã là phương thức căn bản nhất để con người lưu trữ thế giới bên trong của mình, và lan tỏa nó rộng khắp, để chiếm lĩnh một vùng không – thời gian vượt quá bản thân. Hiếm có con người đích thực nào chưa từng chìm đắm trong thế giới của một bản nhạc, bức tranh, bộ phim hay tiểu thuyết.

  1. Các loại hình giải trí

Bản năng thôi thúc con người tìm đến những môi trường thỏa mãn dục vọng, hoặc đem lại sự thoải mái cho họ một cách dễ dàng. Đó là lí do của các loại hình giải trí. Về cơ bản, mọi hoạt động giải trí đều xoay quanh việc thưởng thức một “thế giới nhân tạo” thông qua việc hành xử như thể đó là thế giới thật.

  1. Công nghệ

Công nghệ là một trong những phương tiện quan trọng nhất để con người thay đổi thực tại vật chất theo ý mình. Vì ba thể vật chất, năng lượng và thông tin của một vật luôn chuyển đổi đồng nhất với nhau, công nghệ cũng chi phối thực tại cảm xúc và tâm trí. Điều này thể hiện rõ qua tỉ trọng khủng khiếp của Internet, mạng xã hội và điện thoại di động trong thế giới riêng của con người ngày nay. Nhiều nghiên cứu cho thấy những công nghệ này đang tái định hình cách thức con người xử lý thông tin và hình thành cảm xúc.

 

V. Thật và giả

Mọi tôn giáo lớn đều mô tả một “đạo trời”, “lẽ tự nhiên”, hay “sự thật hằng tồn”, và dạy thiên hạ sửa mình theo đó. Mọi chủ nghĩa đều có những “quy luật tự nhiên khách quan”, những “quyền tự nhiên, thiêng liêng và bất khả xâm phạm” để đặt lên bàn thờ tối thượng, và để lấy cớ đem con người làm vật hiến sinh. Trước đây chưa lâu, ngay cả khoa học cũng đi vào vết xe đổ này. Về bản chất, chủ nghĩa chính trị và tôn giáo niềm tin đều là những kế hoạch áp đặt một thực tại duy nhất cho toàn thế giới. Để kiểm soát thế giới và nô dịch con người thông qua sự độc quyền thực tại.

Tiếc thay, nếu “quy luật tự nhiên khách quan” thật sự tồn tại, thì về mặt logic, nó vẫn đang chi phối vạn vật mà chẳng đòi hỏi vạn vật phải “sửa mình” theo. Ở đâu con người bị buộc phải “sửa mình”, ở đó tính tự nhiên của con người bị hạn chế. Vì thế, mọi “lẽ tự nhiên” được phát biểu thành chủ thuyết, kinh kệ đều phản tự nhiên. Như lời Đạo Đức Kinh, “Đạo khả đạo phi thường đạo”.

Vậy đâu là thật, đâu là giả? Còn gì đáng tin tưởng khi kinh kệ đầy lời nói dối, còn một tiểu thuyết khoa học viễn tưởng lại trở thành hiện thực sau mấy trăm năm? Đâu là đời thực: cuộc sống thường nhật xa lạ làm tâm hồn ta trống rỗng, hay một cốt truyện, lời thơ, câu hát lấp đầy được đáy tâm can?

Mọi thứ đều có thể là thật, và đều có thể là giả. Ta càng hiểu nó, cái nhìn của ta về nó càng thật hơn. Ta càng không hiểu nó, cái nhìn của ta về nó càng giả hơn. Vì mọi thứ con người suy nghĩ hay nói ra , dù chân thật hay dối lừa, đều tồn tại như một mảnh thực tại được tạo ra bởi người đó. Vấn đề là khi ta bước vào mảnh thực tại đó, ta hiểu nó đến đâu.

Nếu ta hiểu và không bị lừa, sẽ chẳng đặt ra vấn đề giả dối.

Còn nếu không hiểu, ta sẽ lệ thuộc vào, và bị bẫy trong một thực tại, kể cả khi đó là thực tại do chính ta tạo ra.

Nguyễn Vũ Hiệp

Nghiên cứu tôn giáo
Ta có thể ẩn mình trong vỏ hạt dẻ những vẫn là Thượng Đế của vũ trụ vô biên.
Share:
Nghiên cứu tôn giáo

Leave a reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *