Thị trường tâm linh

THÔNG THIÊN HỌC VÀ NHỮNG ẢO TƯỞNG THẦN THÁNH

Tôi được một số trí thức hải ngoại kể cho nghe về Thông Thiên Học cách đây 5 năm (họ không biết rằng tôi đã đọc về Thông Thiên Học từ trước đó khá lâu). Trong lời kể của họ, tổ chức Thông Thiên Học giống như một hội kín nắm giữ các bí ẩn của vũ trụ và có thể liên kết với các “bậc tôn sư” để kiểm soát trật tự thế giới. Lời kể của họ làm tôi phần nào nghĩ tới các hội kín như Illuminati và Hội Tam Điểm, những hội kín cũng cho rằng mình có khả năng nắm giữ các bí ẩn của vũ trụ và kiểm soát trật tự thế giới. Phải thừa nhận, Thông Thiên Học gây cảm hứng với không ít người ham mê các chủ đề về tâm linh, đặc biệt là huyền học.

Ngắn gọn về Thông thiên học

Thông thiên học (Theosophy) là một tập hợp các triết luận liên quan đến các tri thức mầu nhiệm và huyền bí về bản chất thế giới, nguồn gốc và mục đích của vũ trụ. Khái niệm “Theosophy” xuất phát từ Hy Lạp, kết hợp giữa “Theo” (tương đương với thần thánh) và “Sophia” (tương đương với trí tuệ, sự thông thái). Khi chúng ta nói “Thông thiên học”, tức là chúng ta nhắc đến hệ thống triết luận do Helena Blavatsky và một số người khác viết nên. Còn hệ thống tổ chức các thành viên Thông thiên học được gọi là Cộng đồng Thông Thiên học.

Cộng đồng Thông Thiên học được thành lập ở New York năm 1875 bởi Helena Blavatsky, William Quan Judge và Henry Steel Olcott. Cuốn sách đặt nền móng tư tưởng cho cộng đồng này là “The secret doctrine”, được viết năm 1888 bởi Helena Blavatsky. Nghĩa là tổ chức được thành lập trước khi có cuốn sách dẫn hướng tư tưởng 13 năm. Tính đến năm 2015, Cộng đồng Thông Thiên Học đã có chi nhánh ở 52 quốc gia trên thế giới, những tổ chức này tập trung vào việc khơi dậy các năng lực tâm linh từ cộng đồng người ở mỗi địa phương đồng thời thúc đẩy các phong trào tôn giáo theo quan điểm của họ. (Có thể nói vui là “Đưa pháp thuật trở lại với thế giới!”)

Biểu tượng của Cộng đồng Thông Thiên học thể hiện như một sự tổ hợp rất nhiều các hệ thống tôn giáo lớn như hình ảnh con trăn tự cắn đuôi mình (biểu tượng Ai Cập cổ đại), biểu tượng hình chữ vạn (thường thấy ở Hindu giáo, Phật giáo và Jaina giáo), biểu tượng ngôi sao 6 cạnh (thường thấy ở Hindu giáo, giáo phái Sunni của Islam và Do Thái giáo), chiếc chìa khóa sự sống (biểu tượng Ai Cập cổ đại). Điều này cho thấy, sự ảnh hưởng chủ chốt đến tư tưởng triết luận của Thông Thiên học đến từ Trung Đông, Ấn Độ và Ai Cập. Bên trong hệ thống biểu tượng hỗn hợp đó, Thông Thiên học đưa ra một câu tuyên ngôn “Không có tôn giáo nào cao hơn sự thật”. Việc lựa chọn các nền văn hóa tâm linh đến từ phương Đông (theo quan điểm của các học giả châu Âu, Ai Cập, Trung Đông, Ấn Độ đều được gọi là “phương Đông”) làm nền tảng cho hệ thống triết luận của mình, Cộng đồng Thông Thiên học đã đưa ra thứ được gọi là “tiên tri” về các quan điểm tôn giáo phương Tây. Blavasky đã tuyên bố rằng: “Truyền thống bí truyền phương Tây không còn đóng vai trò quan trọng trong thời hiện đại” (https://books.google.com.vn/books?id=bMVrr1XaADwC&redir_esc=y ). “Truyền thống bí truyền phương Tây” này có thể hiểu là nền tảng Kito giáo, vốn đang gặp phải rất nhiều đả kích từ giới học thuật và chính trị  thế kỷ 18, 19. Bởi thế, có thể nói, Thông Thiên học là một phần trong trào lưu chống lại sức ảnh hưởng của Kito giáo tại các nước Âu Mỹ trong nhều thế kỷ.

Theo website thongthienhoc.com (được coi là chính thống nhất tại Việt Nam hiện nay), Thông Thiên học bắt đầu du nhập vào Việt Nam từ năm 1923 và phổ biến vào năm 1928. Rất nhiều sách của Thông Thiên học được dịch ra tiếng Việt, đặc biệt là của A. Besant và Leadbeater, nhưng có vẻ như tác phẩm nền tảng của Blavatsky chưa được dịch (hoặc do tôi chưa được cập nhật). Điều thú vị là trong số các sách được dịch có một quyển của J.Krishnamurti thế nhưng chính J.Krishnamurti đã phủ nhận việc là tác giả của cuốn sách này và nhiều người cho rằng chính Leadbeater mới là tác giả. Sự việc này được kể lại trong cuốn sách “Đời không tâm điểm” do Nguyễn Ước dịch và tập hợp các tư liệu về cuộc đời của Krishnamurti trong giai đoạn liên đới tới Thông Thiên học. Chúng ta sẽ trở lại vấn đề này ở phần sau. Quay trở lại những bản dịch Thông Thiên học tại Việt Nam, ta thấy rằng chúng có dấu vết thói quen phương ngữ Nam bộ mà ta có thể bắt gặp trong các bản dịch Kinh Thánh Kito giáo hay Kinh Phật. Điều này cho thấy, có thể rằng Thông Thiên học đã du nhập và có sức ảnh hưởng chủ yếu ở miền Nam Việt Nam. Miền Nam Việt Nam với nền tảng xã hội chịu ảnh hưởng nhiều từ tín ngưỡng tâm linh Ấn Độ, nên đã nhanh chóng và dễ dàng tiếp thu tư tưởng Thông Thiên học. Sau năm 1975, chính quyền Sài Gòn thất thủ, Cộng đồng Thông Thiên học có lẽ đã theo gót người dân lưu vong sang Mỹ. Bởi thế, trong các video bài giảng Thông Thiên học Youtube, ta có thể thấy người đứng giảng luôn đứng cạnh cờ vàng ba sọc đỏ của Việt Nam Cộng Hòa. Như vậy, ở Việt Nam, Thông Thiên học có sự gắn bó với cộng đồng người Việt lưu vong và chính những người Việt lưu vong này cũng muốn thông qua sự ảnh hưởng của Thông Thiên học trong các hoạt động tâm linh ở Việt Nam (giống như trường hợp Dòng Chúa cứu thế hay Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất, Làng Mai của Thích Nhất Hạnh) để tạo ảnh hưởng về chính trị.

Thông Thiên học có ảnh hưởng lớn đến phong trào New Age những năm 1960-1970. Trong một cuốn sách có tên “Chronology of New Age Movements” (Melton 1990), nhận định này đã được khẳng định: “Không tổ chức hay phong trào nào đóng góp cho Phong trào New Age đáng kể như Cộng đồng Thông Thiên học… Đó là lực lượng chính trong việc phổ biến các văn bản bí truyền ở phương Tây trong thế kỷ XX)”. Như vậy, ta có thể thấy rằng âm hưởng chủ đạo chính của phong trào tâm linh có sức ảnh hưởng lớn ở các nước Âu Mỹ này với các lập luận về các giống người có mặt trên Trái Đất, các phương pháp thực hành tâm linh nhào trộn giữa các giáo phái khác nhau (đặc biệt là các nghi lễ tâm linh mang tính cộng đồng), sự tôn thờ các tinh linh (những linh hồn có quyền năng), kết nối với các thế lực thần thánh, cơn cuồng tín với các hệ thống astrology, numerology và kabbalah… đều do Cộng đồng Thông Thiên học rao giảng và lan truyền. Phong trào New Age với sự truyền cảm hứng lớn lao đối với không ít các tầng lớp trong xã hội đặc biệt là giới nghệ sĩ và học thuật, quả nhiên đã làm chao đảo nền tảng Kito giáo ở các nước Âu Mỹ. Tuy nhiên, nhìn nhận một cách trung thực thì phong trào New Age chỉ là một nỗ lực trỗi dậy của các hệ thống tín ngưỡng cổ xưa vốn bị thất thế trước sức mạnh của Kito giáo. Phong trào này đến nay lan rộng sang Việt Nam và biểu hiện thành các trào lưu tâm linh như Thiền đương đại (kết hợp nhiều giáo phái và học thuyết với nhau), các lớp học về mở luân xa (điển hình là Hương Class), các rao giảng về việc kết nối với các đấng hoặc các thần thánh (Sự học Đích thực)…v…v… Mặc dù biểu hiện là như vậy, nhưng có lẽ, chính những người đang thực hiện các thao tác tâm linh ấy cũng không ý thức được rằng mình bị ảnh hưởng từ phong trào New Age vốn dĩ đặt nền móng dựa trên học thuyết của Cộng đồng Thông Thiên học.

Mâu thuẫn giữa J.Krishnamurti và Thông Thiên học

J.Krishnamurti (1895-1986) được đánh giá như một bậc giác ngộ của thế giới hiện đại. Ông có một xuất phát điểm khá li kỳ, đó là ông được tiên tri rằng sẽ trở thành cơ thể hoàn hảo cho đấng cứu thế Maitreya giáng sinh. Khoảng những năm 1890 và 1900, những tin đồn về đấng cứu thế Maitreya giáng thế được tung ra trong Cộng đồng Thông Thiên học. J.Krishnamurti được nuôi dạy từ nhỏ trong môi trường tâm linh với một người mẹ có năng lực dị biệt và sau khi bà mất thì Krishnamurti được gửi đến Cộng đồng Thông Thiên học tại Ấn Độ. Tại đây, ông được dạy dỗ và chuẩn bị các bước hoàn hảo cho sự giáng sinh của Maitreya. Những hoạt động xoay quanh sự giáng thế này đã hình thành nên tổ chức Ngôi sao phương Đông, một phần của Cộng đồng Thông Thiên học.

Trong cuốn “Đời không tâm điểm” tập hợp các tư liệu về những năm tháng Krishnamurti ở trong Thông Thiên học được mô tả rất sống động. Ông được sự hướng dẫn tiếp xúc với thế giới của các bậc “tôn sư”, tức là các thánh thần ở cõi khác. Sự tiếp xúc này duy trì khá lâu trong suốt thời niên thiếu của Krishnamurti. Điều này cho thấy, khả năng lớp người lãnh đạo của Thông Thiên học có liên lạc với một hệ thống thế lực siêu nhiên nào đó là có khả năng. Thế nhưng, khi Krishnamurti rời khỏi Ấn Độ để sang Anh học tập và sinh sống thì mối liên hệ khăng khít về tín ngưỡng ấy dường như trở nên lỏng lẻo. Theo như lời kể lại của những người quen biết ông được ghi trong sách thì Krishnamurti tỏ ra không còn lòng tin, đôi khi có cách nói ẩn ý châm chọc khi nhắc về sứ mệnh của ông.

Cũng trong cuốn sách này, ta được biết thêm về sự dày vò của Krishnamurti khi ông trải qua giai đoạn Maitreya đi vào cơ thể của ông. Những mô tả về giai đoạn này dễ khiến chúng ta tưởng tượng tới những phim cướp xác của Holywood. Krishnamurti dằn vặt, dày vò, đau đớn và đôi khi những người quen không phân biệt được đâu là lời Krishnamurti nói, đâu là lời của một linh hồn khác nói.  Cho đến một ngày, Krishnamurti hoàn toàn chối bỏ sứ mệnh mà Cộng đồng Thông Thiên học trói buộc lên ông từ khi còn thơ ấu bằng việc tuyên bố giải tán tổ chức Ngôi sao phương Đông lúc đó đã lên đến cả ngàn thành viên:

“Đây không là một hành động cao cả, vì tôi không muốn có đệ tử, và tôi có ý như thế. Hễ giây phút nào các bạn theo ai thì phút giấy ấy các bạn ngưng theo Chân lý. Tôi không quan tâm xem các bạn có chú ý tới điều tôi nói hay không. Tôi muốn làm một điều có tính cách nhất định trên thế giới này và tôi sắp làm điều đó với sự tập trung kiên định. Bản thân tôi quan tâm tới việc cốt yếu độc nhất, đó là: sao cho con người được giải thoát. Tôi khao khát giải phóng con người khỏi mọi chiếc lồng, khỏi mọi sợ hãi và không mưu tìm một tôn giáo, một tông phái mới, cũng không xây dựng lý thuyết mới, triết thuyết mới. Thế thi tất nhiên các bạn sẽ hỏi tôi tại sao tôi lại đi khắp thế giới, liên tục phát biểu. Tôi sẽ nói cho các bạn biết lý do nào tôi làm như thế: không phải vì tôi muốn có sự theo mình, không phải vì tôi muốn có một nhóm đặc biệt gồm các môn đệ đặc biệt. (Người ta thích biết chừng nào được khác biệt với đồng môn, tuy sự phân biệt đó của họ có thể là khôi hài, phi lý và tầm thường: tôi không muốn khuyến khích sự phi lý ấy.) Tôi không có môn đệ, không có tông đồ cả ở chốn thế tục lẫn cảnh giới tâm linh.”

Những tuyên bố này đã đi ngược lại toàn bộ những gì Cộng đồng Thông Thiên học xây dựng, sâu xa hơn là đi ngược lại toàn bộ triết thuyết của Thông Thiên học. Bởi thế, Cộng đồng Thông Thiên học đã từng cho rằng Krishnamurti bị nhập bởi một phù thủy hoặc một thế lực ác quỷ nào đó nên mới đưa ra các phát ngôn như thế. Đó là thời điểm năm 1930. Trong năm đó, ông đã phát biểu trong Tập san Ngôi sao quốc tế như sau: “Lời giảng của tôi không thần bí lẫn huyền bí vì tôi coi cả hai tính cách đó là những hạn chế con người trong cuộc tìm kiếm Chân lý”. Lời phát biểu này lại thêm một lần nữa tấn công mạnh vào những giá trị tâm linh mà Cộng đồng Thông Thiên học đang lan truyền. Năm 1934, Krishnamurti gọi Cộng đồng Thông Thiên học là một “tín ngưỡng có tổ chức” và khẳng định rằng: “ý tưởng về một Đạo sư hướng dẫn con người tới chân lý thì không liên quan gì tới niềm tin của tôi.” Lời khẳng định này là sự phủ nhận toàn bộ sứ mệnh trở thành “cỗ xe của đấng Maitreya”. Từ đó, ông biến mất khỏi truyền thông và sống cuộc đời ẩn dật cho đến những năm 1947, 1948 ông quay trở lại với sự điềm tĩnh và các bài giảng sâu sắc hơn. Tuy nhiên, sẽ có một dịp khác chúng ta tìm hiểu về Krishnamurti. Tôi xin được quay lại với Cộng đồng Thông Thiên học.

Nhận xét về các hành vi này của Krishnamurti, Osho – một bậc cũng được coi là chứng ngộ của thế giới hiện đại nói rằng: “Krishnamurti đã được huấn luyện theo một kỉ luật nào đó, là một bạn tù của nhà tù có tên là thông thiên học – nhưng ông ấy đã cố gắng vất vả, phá vỡ nó, trở nên tự do với nó. Nếu bạn hỏi tôi thì tôi sẽ nói một điều: nếu như không có việc tù túng thông thiên học của ông ấy trong thời thơ ấu của mình, thì sẽ khó cho ông ấy trở thành con người tự do. Annie Besant và Leadbeater và các nhà thông thiên khác đã tạo ra toàn bộ tình huống này – một cách không chủ ý, tất nhiên, họ đã không dự tính điều đó. Họ đã cố gắng làm một cái gì đó khác. Họ đã tạo ra giáo điều quanh ông ấy, sùng bái quanh ông ấy. Và họ đã nghiêm khắc với ông ấy đến mức điều đó thực sự trở thành không thể sống được trong nó. Ông ấy đã phải thoát ra khỏi nó. Danh tiếng thuộc về những người đó – Leadbeater và Annie Besant.”

Qủa thật, qua sự kiện Krishnamurti rời khỏi Cộng đồng Thông Thiên học, ta có thể thấy bản chất của tổ chức này. Mặc dù, cộng đồng này luôn tuyên bố rằng họ không phải tôn giáo như mô hình tổ chức của họ thực sự đã là tôn giáo. Họ có một hệ thống niềm tin đóng kín và sợ hãi trước mọi thách thức của hoài nghi, cụ thể ở đây, họ đã sợ hãi trước tinh thần tự do của Krishnamurti. Họ có một hệ thống lề luật mà từ bé Krishnamurti đã phải trải qua. Họ có một sứ mệnh mà Krishnamurti phải là đại diện cho sự gánh vác. Họ có những tôn ti trật tự trong cấp bậc tu luyện giống như tất cả các tôn giáo khác.

Hãy tưởng tượng về đấng cứu thế của họ – Maitreya. Maitreya là một tên gọi Đức Phật Di Lặc, được sử dụng trong quan điểm Thông Thiên học, sánh ngang với Đấng Christ hay Krishna. Maitreya được mô tả như bậc “Đạo sư tối cao” đưa con người tới “giải thoát”. Một đấng vĩ đại như vậy, tại sao phải cố cưỡng ép để chui vào cơ thể vật lý của một chàng thanh niên trẻ tuổi, để rồi mượn lời chàng thanh niên ấy để tác động thay đổi thế giới qua việc điều khiển Cộng đồng Thông thiên học. Dường như có gì đó bất chính ở đây. Tại sao một đấng sáng chói muốn dẫn dắt con người tới Chân lý, tới giải thoát lại có hành vi đi ngược lại mục đích của mình như thế. Những tín đồ của Thông Thiên học hẳn sẽ cho rằng tôi đã dùng cái nhìn thế tục để đánh giá bậc siêu nhiên, nhưng cách họ thực hiện sự giáng thế của đấng cứu thế làm tôi cảm thấy giống các nghi lễ cướp xác của các giáo phái thờ quỷ dữ mà tôi sẽ kể cho các bạn nghe ở một bài viết khác.

Hơn nữa, những hệ thống lề luật, phương pháp thực tập, hệ thống lý thuyết của Cộng đồng Thông Thiên học đi sâu vào các bí giáo thời cổ của Ai Cập, Lưỡng Hà và Ai Cập cổ đại. Những học thuyết này được ghi chép lại trong một số tư liệu và truyền dạy trong một số hội kín, tuy nhiên chỉ phần nào giải thích được một vài khía cạnh của thế giới và chủ yếu được ứng dụng để… “xem bói” hoặc làm “bùa chú” hoặc luyện một số quyền năng ra uy với thế tục. Vậy nên, không có sự bảo đảm rằng những học thuyết ấy có thể đưa con người tới chân lý. Việc liên lạc với các bậc tôn sư ở thế giới siêu nhiên để được họ hướng dẫn cũng không có gì đảm bảo được rằng họ thực sự là những đấng mà họ xưng danh. Bởi thế, ta rất khó phân biệt được đâu là những ảo giác và đâu là sự thật mà chúng ta nhận ra. Do đó, câu tuyên ngôn “Không tôn giáo nào cao hơn sự thật” có trên biểu tượng của Thông Thiên học chỉ đơn giản là… một câu tuyên ngôn mà thôi.

Hà Thủy Nguyên

                               

Nghiên cứu tôn giáo
Ta có thể ẩn mình trong vỏ hạt dẻ những vẫn là Thượng Đế của vũ trụ vô biên.
Share:
Nghiên cứu tôn giáo

Leave a reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *