Đây là thuật ngữ gây nhiều tranh luận dùng để gọi phong trào tinh thần và xã hội bao gồm một phạm vi được quan tâm rộng rãi về tôn giáo, triết học, thuật huyền bí, sức khỏe, tâm lý học, cận tâm lý học, sinh thái học. Hầu như không thể định nghĩa chính xác điều gì tạo nên “Kỷ nguyên mới”. Thuật ngữ “Kỷ nguyên mới” thay cho “Kỷ nguyên Bảo bình” được sử dụng trong thập niên 1960.

Trên thực tế, “Kỷ nguyên mới” đã được sử dụng trong quá khứ, chẳng hạn như tên gọi nhiều tạp chí xuất bản định kỳ, như tạp chí của Hội Tam Điểm, New Age, xuất bản năm 1914; và môt tuần báo ở London, The New Age, được sáng lập trước Thế chiến I với nhiều bài viết về các vấn đề xã hội, chính trị, kinh tế, tâm linh và tâm lý học.

“Kỷ nguyên mới” không có tổ chức và lãnh đạo chính mặc dù có mạng lưới gồm nhiều cá nhân đồng quan điểm và nhiều người khác nhau được thừa nhận là phát ngôn viên cho quan điểm Kỷ nguyên mới. Không có chương trình nghị sự. Đức tin và hoạt động của Kỷ nguyên mới mang tính chiết trung và chủ nghĩa cá nhân cao, về cơ bản là một phần trong sự phấn đấu trở thành tổng thể: quá trình cá nhân hóa được chuyên gia tâm thần Carl G. Jung mô tả, hay sự tự thể hiện tiềm năng được nhà tâm lý học nhân văn Abraham H. Maslow mô tả. Có sự quan tâm chung trong việc theo đuổi sadhana, con đường tinh thần, hướng đến sự tự thực hiện, trong sự chuyển hóa thê giới thông qua ý thức tinh thần đại kết mọi tôn giáo, và trong việc tìm kiếm quan tâm đến hành tinh.

Kỷ nguyên mới phần lớn diễn ra ở phương Tây thời công nghiệp hóa, đặc biệt là ở Mỹ , nơi sự thể hiện truyền thống huyền bí  đã phát triển từ lúc thành lập nước. J. Gordon Melton, một mục sư trong Giám lý hội ở Mỹ, sử gia giáo hội, cũng là học giả nghiên cứu các tôn giáo không chính thống, đã xác định niên đại khởi đầu của Kỷ nguyên mới đến năm 1971, khi được phát biểu có hệ thông lần đầu tiên. Nhiều nhóm nhỏ trong thập niên 1960, kết quả của phong trào beatnik và hippie, bắt đầu tự gọi mình là “kỷ nguyên mới”, nhưng cho đến thập niên 1970 mới xuất hiện hệ thống, tổ chức, tạp chí xuất bản định kỳ va ấn phẩm Kỷ nguyên mới.

David Spangler, một trong những quan sát viên có lý luận nhất về bản chất Kỷ nguyên mới, cho rằng kỷ nguyên này như “phép ẩn dụ phải sống trong thế giới theo cách mở ra cho chúng ta sự hiện diện của Thiên chúa – sự hiện diện của tình yêu và khả năng có thể – giữa những chuyện thường ngày của chúng ta”.

Sách của Spangler  The Birth of a New Age (1976) và Emergence: The Rebirth of the Sacred (1984), thuộc về những sách mô tả rõ nhất quan điểm của Kỷ nguyên mới. Quyển khác là The Aquarian Conspiracy (1980; 1988) của Marilyn Ferguson. Tuy nhiên, nhận xét chính xác của Ferguson cho rằng những người tán thành Kỷ nguyên mới đều có mặt ở mọi nơi trong mọi cấp xã hội, cùng với việc bà chọn từ “thông đồng” không thích hợp, đã bị một số thế lực phản đốì Kỷ nguyên mới theo thuyết cơ bản cho đó là chứng cứ của một “âm mưu” làm bá chủ thế giới của Kỷ nguyên mới, chống Kitô, quy mô lớn.

Trong số các khái niệm nổi bật trong tư tưởng Kỷ nguyên mới là cá nhân tạo ra thực tại của riêng mình, rằng tính chất thiêng liêng tôn tại bên trong, và có nhu cầu nhận biết nữ tính đổi mới là sử dụng nét “nữ tính” chẳng hạn như trực giác.  

Tư tưởng Kỷ nguyên mới tự thân nó không phải là mới mà chỉ là sự diễn đạt mới các định luật vĩnh hằng trong vũ trụ, tinh thần và cảm xúc. Trong quyển The New Religions (1970; 1984), Jacob Needleman nhận xét rằng việc tìm kiếm tinh thần hiện đại phải liên quan với “sự hình thành một điều gì đó đích thực là Cái tôi của chính mình, nguồn con người thật sự bên trong cái tôi và bên trong cộng đồng”. Theo Needleman, “nguồn của chính mình”, không thể được phân thành cổ đại hay hiện đại,cũng như suy nghĩ hay cảm tưởng, tâm linh hay tâm lý hay thậm chí tôn giáo trong nghĩa thông thường. Phải là điều luôn luôn mới,nhưng không nhất thiết mang mới lạ hay sáng kiến dù lúc đầu thường có vẻ như thế. Ở đây chúng ta đang bàn về sự hiện diện bên trong con người và bên trong đời sống nhân loại một điều gì đó hoàn toàn mới và điều này có vẻ phù hợp với định luật cơ bản, vĩnh hằng.

Kỷ nguyên mới phát triển mạnh nhất ở Mỹ vì một số lý do. Chính tính chất của nước Mỹ là nơi hòa trộn mọi quan điểm trên thế giới đã tạo cho nước này có truyền thống lâu đời trong việc tiếp thu và tổng hợp mọi yếu tố đa dạng của các nền văn hóa khác, bao gồm tôn giáo. Di dân châu Á, có một số đến Mỹ với mục đích truyền bá tôn giáo phương Đông, đã tìm được tín đồ, nhất là sau thập niên 1960. Sự quá thiên về vật chất cũng làm cho nước Mỹ cần phải thay đổi chuyển hóa. Cuối thế kỷ 19, một chính khách kiêm tác gia người Pháp Alexis de Tocqueville cũng dự đoán Kỷ nguyên mới cũng như nhận xét của ông về sự đồng tồn tại ở Mỹ lối sống thiên về vật chất và tinh thần tôn giáo mãnh liệt. “Nếu như khả năng của đại đa số nhân loại chỉ dành trọn cho việc theo đuổi vật chất cụ thể thì có thể dự đoán rằng một phản ứng đáng ngạc nhiên sẽ diễn ra trong linh hồn của một số người”, de Tocqueville phát biểu như thế trong quyển Democracy in America. “Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu chẳng bao lâu nữa thuật huyền bí phát triển ở cá nhân chỉ quan tâm đến việc tăng cường phúc lợi trần thế của chính mình”.

Kỷ nguyên mới có nhiều sự kiện phong phú. Thật ra như nhà khoa học và triết gia Pierre Teilhard de Chardin nhận xét trong quyển The Phenomenon of Man (1955), nhân loại trong mọi thời đại lịch sử đều tự cho rằng bản thân mình đang ở bước ngoặt. Trong khi điều này là cảm giác đúng vì chúng ta tiến bộ theo đường xoáy ốc hướng lên, theo Teilhard, “có những thời điểm khi ấn tượng chuyển hóa này được nhấn mạnh, do đó được biện minh một cách cụ thể”.

Nền tảng Kỷ nguyên Mới ở Mỹ đã được hình thành từ khi lập quốc, phần lớn lãnh đạo đều là hội viên, ủng hộ tư tưởng huyền bí của Hội Tam Điểm và Thập giá hoa hồng, cũng như chịu ảnh hưởng của triết lý Khổng tử. “Khởi đầu một Trật tự Kỷ nguyên mới”, lới tuyên bố được khắc ở mặt sau Đại ấn của Mỹ. Dân chủ và quyền tự quyết của cá nhân trong việc mưu cầu hạnh phúc, tự do, đời sống giúp nuôi dưỡng một nền văn hóa có khuynh hướng đổi mới và sáng kiến nhiều hơn bất kỳ nền văn hóa nào trước nó. Vào đầu và giữa thế kỷ 19, tín đồ phái Siêu việt bắt đầu làm quen với các tôn giáo và triêt lý phương Đông. Họ tán thành một triết lý nhấn mạnh trực giác cũng như trí năng và trái với những quan điểm khoa học đang thịnh hành, một vũ trụ tiến hóa, hằng sống. Đên lượt thuyết Siêu việt ảnh hương đến các phong trào Thần trí tiêp theo sau, mô tả một nô lực rộng khắp đầu tiên nhằm phổ biến giáo lý phương Đông ở phương Tây, thuyết Duy linh, chữa bệnh tâm thần, Khoa học Kitô và Tư tưởng mới, Tư tưởng mới trình bày sự tổng hợp y học, tôn giáo và tâm lý học không chính thống.

Bắt đầu vào cuối thế kỷ 19, nhiều nhóm tôn giáo thay thế bắt đầu phát triển ở Mỹ, sau Thế chiến II phát triển mạnh hơn nữa. Năm 1965 xem lại việc hạn chế nhập cư đối với người châu Á có thể so sánh với định mức nhập cư dành cho người châu Âu, đã dẫn đến làn sóng người châu Á tràn vào nước Mỹ. Sự bất ổn xã hội và chính trị trong thập niên 1960 đã tạo ra mảnh đất màu mỡ cho các tôn giáo phương Đông phát triển ra khỏi cộng đồng thiểu số của mình, chủ yếu nhắm đến đối tượng là người lớn độc thân, sống ờ đô thị, hướng thượng. Ảnh hưởng khác là thử nghiệm các chất gây nghiện tạo ảo giác để làm phương tiện có được trạng thái ý thức cao hơn và sự phát triển tâm lý học nhân văn. Vào giữa thập niên 1980, nữ diễn viên Shirley MacLaine là người đưa Kỷ nguyên mới đến với đa số quần chúng với sự công khai đề cập sự đánh thức tinh thần của chính mình. Đối với nhiều người, sự thú nhận thành thật của MacLaine về niềm tin hóa thân và sinh vật ngoài trái đất làm cho nhiều người đồng ý tìm hiểu mở rộng nhiều chủ đề.

Hoạt động của Kỷ nguyên mới nói chung chỉ gói gọn ở nước Mỹ. Ý thức môi trường phát triển trong thập niên 1960 , và dẫn đến thuyết hành động chính trị của nhóm Hòa bình xanh ở châu Âu (ở Bắc Mỹ với mức độ kém hơn), có thể xem là một phần của Kỷ nguyên mới. Ở Anh, một trong những nhân vật hàng đầu về tư tưởng Kỷ nguyên mới là huân tước George Trevelyan, vào năm 1971 thành lập tổ chức Wrekin Trust ở West Malvern, Worcestershire. Wrekin Trust là môt tổ chức từ thiện giáo dục “quan tâm đến việc nâng cao nhận thức và nghiên cứu các nguyên tắc tinh thần hoạt động thông qua chúng ta và vũ trụ”, tìm cách phối hợp hiểu biết vượt thời gian với khoa học và tâm lý học hiện đại để trình bày một thế giới quan chính thể luận. Trust dựa trên quan niệm về đại học thời Trung cổ, tìm ra phương pháp và hệ thống tri thức dẫn đến sự kết hiệp cùng Đấng duy nhất.

Cuộc tìm kiếm tinh thần hiện nay tiếp tục tập trung vào các tôn giáo và triết lý phương Đông. Mặc dù những điều cốt lõi huyền bí, sâu xa trong đạo Do Thái và Kitô giống với các tôn giáo ở phương Đông, nhưng việc hành đạo phổ biến đã mất đi nhiều yếu tố mà cá nhân cảm thấy cần thiết, và họ đã tìm thấy trong tư tưởng phương Đông: chẳng hạn, sự hiện hữu của vũ trụ, vũ trụ bí tích, trong đời sống tôn giáo (giáo hội Chính thông phương Đông đã từng là một nhánh Kitô giáo duy nhất gìn giữ yếu tố này). Vũ trụ phương Đông đang sống và liên kết với nhau chứ không phải đã chết và máy móc. Các tôn giáo phương Đông đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về Đấng tuyệt đối. Đối với những cá nhân thất vọng trong việc theo đuổi vật chất, thì tư tưởng phương Đông chứng minh rằng sự thỏa mãn thèm muốn không mang lại hạnh phúc và sự thèm muốn ấy phải được chuyển hóa thông qua bài tập khắc chuyển hóa thông qua bàitập khắc khổ (du già và thiền định). Những bài tập như thế không còn là một bộ phận trong các tôn giáo phương Tây nữa, ngoại trừ trong các tu viện hay trong một vài công đoàn tôn giáo chẳng hạn như Hasidim.

Trong khi người ta ngày càng quan tâm đến các tôn giáo phương Đông, thì Cơ đốc giáo, giáo phái Tin Lành trào lưu của đạo Kitô và đạo Do Thái lại mất đi tín đồ. Nhiều người tìm đến các giáo phái Kitô truyền giảng Phúc âm, trong khi số khác lại xa rời tôn giáo nói chung và chọn cái gọi là tôn giáo “mới” phương Đông. Tuy nhiên, cũng có nguy cơ trong phong trào đại kết Kỷ nguyên mới, ở chỗ cá nhân vẫn không có nguồn cội tôn giáo, bỏ qua và chọn vội vàng một số giáo lý và thực hành nào thuận tiện nhất. Như Jacob phát biểu vẫn chưa đủ để giải thoát nghị lực cao hơn trong tinh thần. Không có “sự rèn luyện bên trong mở rộng và nghiêm túc do hiểu biết chính xác dẫn dắt và sự hỗ trợ của một công đoàn thích hợp” thì những nghị lực như thê hoàn toàn bị chuyên hướng trở thành sự theo đuổi cái tôi. Ban đầu, các tỏn giáo phương Đông được nhiều người phương Tây chọn như cảm giác tinh thân truyền qua cá nhân. Needleman đặt câu hỏi phải cần bao nhiêu thời gian và sự giúp đỡ ra sao mới chuyển hóa được cảm giác thành một tác động tính thần bên trong.

Sự rao giảng không có ràng buộc là một yếu tố khiến giới phê bình gọi Kỷ nguyên mới là giả tạo, lợi dụng, quá yêu mình, lường gạt, theo phong trào, phản Kitô và rất nhiều từ ngữ xấu khác. Một số người theo thuyết cơ bản và những người phản đối tư tưởng Kỷ nguyên mới quả quyết rằng Kỷ nguyên mới thực sự do Satan lập ra, quỷ vương này dẫn đầu một đạo quân quỷ tay sai chổng lại nhân loại. Constance Cumbey, một trong những nhà phê bình Kỷ nguyên mới nổi tiếng nhất, người đã hỏi vặn giả thuyết “thông đồng”, cố gắng rút ra sự giống nhau giữa Kỷ nguyên mới và chủ nghĩa Quốc xã, và dám chắc rằng Kỷ nguyên mới do Lucifer dẫn dắt đang mưu đồ hủy diệt Kitô giáo và nền văn minh phương Tây. Những người theo thuyết cơ bản khác ôn hòa hơn chọn cách tiếp cận hợp lý hơn, nhưng vẫn xem tư tưởng Kỷ nguyên mới đối với đức Kitô và Chúa Jesus là sai lầm, lệch hướng.

Phải nên gạt bỏ những quả quyết cực đoan như thế. Tuy nhiên, ý kiến phê phán tự yêu mình, giả tạo, lạm dụng và gian lận cũng có một số điểm hợp lý – nhưng không có lĩnh vực nào mà không có người lợi dụng. Kỷ nguyên mới không phản Kitô nhưng một phần của Kỷ nguyên mới phản ánh sự bất mãn trước sự thất bại của Kitô giáo có tổ chức không tạo ra được sự nuôi dưỡng tinh thần. Một số giáo phái bị đồng nhất với Kỷ nguyên mới nhưng số giáo phái này đã tồn tại trước Kỷ nguyên mới rất lâu.

Những người tán thành Kỷ nguyên mới gọi kỷ nguyên này là “cuộc cách mạng trong ý thức” và dự đoán sẽ lan tỏa khắp nền văn hóa trào lưu, vươn đến các biên giới mới. Ở mức độ nào đó, sự thâm nhập của tư tưởng Kỷ nguyên mới đã diễn ra, đáng chú ý nhất là trong các lĩnh vực y học hành vi, vật lý học, tâm lý học và kinh doanh và trong sự khai thác trực giác và chấp nhập psi ngày càng nhiều xem đó là chức năng hoạt dộng bình thường của một cơ thể sống, về psi, 67% số người lớn Mỹ cho biết họ đã trải qua nhận thức ngoài cảm giác, theo một khảo sát của Hội đồng nghiên cứu công luận quốc gia, đại học Chicago, công bố năm 1987. Điều này phản ánh sự thay đổi ấn tượng kê’ từ cuộc thăm dò ý kiến Roper năm 1974, lúc đó chỉ có 53% tin psi có thật.

Từ “Ký nguyên mới” nhanh chóng rơi vào tình trạng nguy hiểm do bị lạm dụng và sử dụng sai. Giới truyền thông gây nhiều tổn thất nhât, đánh đồng “Kỷ nguyên mới” với những cuộc theo đuổi khác thường hay đáng nghi vấn. Những ai thích từ này và tìm thấy nhiều khả năng trong những gì Kỷ nguyên mới chuyển tải sẽ không thể tìm được sự thay thế thích hợp. Vào thập niên 1990, khi quan tâm Kỷ nguyên mới nổi bật thành phong trào thìnhu cầu tìm tên gọi khác không còn nữa. Thật ra, nếu tư tưởng Kỷ nguyên mới là phải chuyển hóa thì khi ấy tư tưởng này phải trở thành chuẩn mực, không có ngoại lệ.

Trích TỪ ĐIỂN TÔN GIÁO VÀ CÁC THỂ NGHIỆM SIÊU VIỆT (RoseMary Ellen Guiley)

Link mua sách: http://www.hangcao.info/san-pham/tu-dien-ton-giao-va-cac-the-nghiem-sieu-viet/

Nghiên cứu tôn giáo
Ta có thể ẩn mình trong vỏ hạt dẻ những vẫn là Thượng Đế của vũ trụ vô biên.
Share:
Nghiên cứu tôn giáo

Leave a reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *