Trong sự nghiên cứu của chúng ta về cấu trúc tâm lý của con ngườí, đã đến lúc phải xem xét phần trên cùng cùa cái vô thức : cái siêu thức hay Ngã tâm linh (Soi spirituel). Trước hết, phải khẳng định tính hiện thực của cái siêu thức vì, nói chung, nó vẫn chưa được thừa nhận, và đó vẫn là một miền bí ẩn, nhất là trong trường khoa học, trong tâm lý học. Dưới đây chúng ta sẽ thấy tại sao. Nhưng tính hiện thực cùa cái siêu thức không cần được chứng minh, vì đây là một thể nghiệm, và khi chúng ta làm sự thể nghiệm đó, nó là một trong những “sự kiện của ý thức”, nói theo cách nói rất đúng cùa Bergson, mà những sự kiện này tự chúng có tính hiển nhiên của chúng, có bằng chứng của chúng. Đó là một sự thể nghiệm trực tiếp như sự thể nghiệm về một màu sắc, một âm thanh, một tình cảm. Không thể và cũng không cần “chứng minh” cảm giác về màu đỏ hay màu lục, về niềm vui hay nỗi đau: đối với những ai có sự thể nghiệm này, đó là một hiện thực tâm lý.

Về điểm này, cần tránh một sự hiểu lầm có thể có và cần loại bỏ sự nghi ngờ. Làm thế nào chúng ta lại có thể nói tới sự thể nghiệm hay ý thức về những sự vật nằm bên ngoài hay bên trên ý thức của chúng ta được ? Câu trả lời thật dễ dàng : nó cũng giống như câu trả lời được đưa ra đối với mọi khía cạnh hay trình độ khác của cái vô thức. Chúng có thể có sự thể nghiệm có ý thức về các hiện tượng, các hoạt động, các nội dung tâm lý thưòng nằm bên ngoài trường ý thức của chúng ta, khi chúng đi vào trường này ở một số thời điểm nào đó, trong một số hoàn cảnh nào đó.

Có một sự trao đổi liên tục, giống như một sự “thẩm thấu”, giữa cái hữu thức và cái vô thức. Ở một thời điểm nhất định, cái siêu thức trở thành cái hữu thức trong một thời gian nào đó, rồi lại trở thành cái siêu thức. Về mặt này, tôi xin nhấn mạnh rằng “cái siêu thức”, “cái hữu thức” và “cái vô thức” là những tính từ và, do đó, chúng chỉ những điều kiện nhất thời của một sự kiện tâm lý.

Việc cái siêu thức đi vào trường ý thúc có thể xảy ra theo hai cách : cách thứ nhất, thông thường nhắt, có thể nói là “đi xuống” ; đó là sự đột nhập của những yếu tố siêu thức vào trường ý thức, như trong trực giác, trong sự đại giác đột nhiên và sự ngẫu hứng. Thường sự đột nhập ấy xảy ra tự phát, bất ngờ, nhưng có khi nó có thể đáp ứng với một sự cầu viện, một sự mong chờ, có ý thức hay không. Cách thứ hai, có thể nói là “đi lên”. Đó là khi trung tâm ý thức chúng ta, khi cái tôi có ý thức về chính bản thân nó, được nâng lên một trình độ cao hơn, cho tới lĩnh vực của cái siêu thức.

Những bằng chứng thể nghiệm về cái siêu thức là nhiều vô kể, ở mọi lúc và mọi nơi, thời cổ đại cũng như thời hiện đại, ở phương Tây cũng như ở phương Đông. Những thể nghiệm ấy có nhiều kiểu khác nhau. Trước hết là những thể nghiệm thuộc về trường tôn giáo, nhất là những thể nghiệm thần bí; nhưng cần phải ghi nhớ rằng đó không phải là những thể nghiệm duy nhất, còn có những thể nghiệm siêu thức có những đặc trưng khác, không có tính chất tôn giáo. Nếu những thể nghiệm siêu thức là những sự kiện, thì rõ ràng chúng phải thích hợp với một cuộc điều tra khoa học, giống như mọi loại sự kiện khác. Một sự tìm kiếm theo hướng này đã được bắt đầu, nhưng chưa được phát triển mấy về mặt giá trị và tầm quan trọng trong con người và tâm linh của cái siêu thức. Trong khi hàng nghìn nhà tâm lý học trên thế giới đang nghiên cứu những mặt khác của bản chất con ngưòì (mà chủ yếu là những mặt thông thưòng nhất !), thì rất ít người nghiên cứu về cái siêu thức.

Tại sao lại có tình hình lạ lùng ấy ? Trước hết, đó là do chủ nghĩa duy vật căn bản về con người, và nhất là chủ nghĩa duy vật lý thuyết và thực tiễn về con ngưòi phương Tây. Con ngưòi phương Tây bị quyến rũ bởi những cảm giác do thế giới bên ngoài và do chính thân thể mình tạo ra. Nó hướng ra bên ngoài về căn bản và có xu hướng tác động vào cái bên ngoài. Thế giới nội tâm, với tất cả các mặt của nó, đã làm cho con người phương Tây cảm thấy sợ và khó chịu. Do đó, nó cố trốn chạy khỏi thế giới đó, khỏi tất cả nhũng gì hướng nó vào nội tâm, tất cả những gì làm cho nó đối đầu với chính nó. Một lý do khác là sợ trở thành không bình thường hoặc bị coi như vậy. Kẻ nào đã từng có những thể nghiệm siêu thức thì đâm ra sợ “mất tỉnh táo”. Nhất là khi đó là những cơn đột phá bất ngờ, rất khác vài tính bình thường chật hẹp hàng ngày, thì anh ta sợ chúng mang tính bệnh hoạn, không bình thưòng, trong khi chúng lại là siêu bình thưòng (supra – normales). Cuối cùng, trong trưòng khoa học, trở ngại chủ yếu là định kiến dai dẳng không coi những thể nghiệm nhu vậy là đối tượng của khoa học. Tâm lý học, khoa học trẻ nhất trong các khoa học, dựa vào phương pháp của các khoa học tự nhiên hoặc có liên quan với phương pháp đó ; thế nhưng, phương pháp đó hoàn toàn không thích hợp với nó ; đối với nó, phương pháp đó là một “cái giường Procuste”. Thật ra, tâm lý học có quyền và có nghĩa vụ sử dụng những phương pháp cũng nghiêm chỉnh và khoa học nhu vậy, nhung thích hợp với bản chất của nó hơn cả.

Tuy vậy một nhóm tiên phong dũng cảm đã dám phiêu lưu vào trường của cái siêu thức và đã tìm cách nghiên cứu nó một cách khoa học. Nguòi tiên phong đầu tiên là nhà tâm lý học lớn, người Mỹ, William James. Trong một loạt bài giảng – sau đó đuợc tập hợp vào cuốn sách nhan đề Tính đa dạng của những thể nghiệm tôn giáo – ông đã chăm chú xem xét những thể nghiệm này với sự đồng cảm và tôn trọng, nhưng cũng theo lối khách quan và vô tư. Ông đã làm được công việc càng quí giá hon ấy khi ông thừa nhận rằng chính bản thân ông không có những thể nghiệm đó và ông đã phải nổ lực lớn về mặt khoa học để tiến hành cuộc nghiên cứu trên những thể nghiệm của người khác.

James đâ trình bày nhũng bài giảng của mình vào cuối thế kỷ trước. Ít lâu sau, bác sĩ Bucke, một thầy thuốc Mỹ,  ngay sau một sự thể nghiệm đại giác tâm linh bất thần và bất ngờ gây hiệu ứng sâu sắc đối với ông, đã bắt đầu nghiên cứu những bằng chứng về nhũng điều mà ông gọi bằng một từ ngữ có thể bàn cãi là “ý thức vũ trụ”. Ông đã tập hợp nhiều bằng chứng, đã bình giải chúng và đưa ra sự lý giải của mình trong cuốn “Ý THỨC VŨ TRỤ” công bố năm 1901.

Một thầy thuốc khác, Winslow Hall, đã thu thập những bằng chúng đại giác, mà giá trị của chúng chính là ở chỗ, đó là của nhũng người ngoài đường, túc là của “bất kỳ ai”, những người không hề có một đặc trưng cao siêu nào, nhưng lại có những thể nghiệm siêu thức nổi bật.

Trong số những nhà tâm lý học hiện đại, nguôi ta thấy có Jung. Theo Jung, trong cái được ông gọi là “cái vô thức tập thể”, có những yếu tố mang một tính chất cao siêu, siêu cá nhân. Nhà xã hội học Sorokin đã dành cho cái siêu thức một chương trong cuốn sách của ông “Các quyền năng và các con đường yêu thương vị tha”. Nhà thần kinh học ở Viên, Frankl, đả thừa nhận rõ ràng sự tồn tại của những thể nghiệm siêu thức. Nhà tâm thần học Urban ở Insbruck đã nói tới “tâm lý học về những chiều cao” (psychologie des hauteurs). Cuối cùng, một cuộc điều tra rộng lớn đã được nhà tâm lý học A. Maslow, giáo sư Trưòng đại học Brandeis, tiến hành. Ông dùng thuật ngữ “tồn tại” cho tất cả những kiểu thể nghiệm mà chúng ta coi là siêu thức, vì một trong những đặc trưng của chúng là đem lại một cảm giác “sung mãn vì tồn tại” (plénitude d’être), cảm giác tồn tại và sống mãnh liệt. Maslow đã thu thập một loat dữ kiện quan trọng rút ra từ những cuộc trò chuyện và những cuộc điều tra bằng phiếu hỏi.

Điều đó dẫn chúng ta tới chỗ nói tới những phương pháp điều tra về cái siêu thức. Trước hết, phải tập hợp tất cả các văn kiện hiện có về vấn đề này : các tiểu sử, các tự truyện, thư từ, v.v… ở tất cả các thời đại ; rồi lại phải nắm được những dữ kiện khác bằng các cuộc trò chuyện và các cuộc điều tra bằng phiếu hỏi.

Khâu thứ hai của điều tra khoa học là xem xét, sắp xếp, lý giải và đánh giá những dữ kiện đã thu thập được. Cách tiếp cận thứ ba, thú vị nhất, là thực nghiệm ; nó sử dụng những phương pháp tâm lý học, hoặc để làm cho các yếu tố siêu thức xuống trường ý thức một cách dễ dàng hơn, hoặc để đưa trung tâm ý thức lên vùng sáng cao nhất.

Nhũng dữ kiện nào đã tập hợp cho tới nay trong sự nghiên cứu của chúng tôi về cái siêu thức, nói cách khác, những đặc trưng nào của các trình độ hay trạng thái cao siêu của ý thúc đã nảy sinh ra khi cái siêu thức đi vào trường ý thức ? Tôi đã đếm và đã mô tả được mười ba thứ sau đây :

–        Thứ nhất là một cảm giác về chiều sâu. Trong những bằng chứng khác nhau, người ta nói rằng mình đi tới cội rễ, tới cơ sở tồn tại của mình, từ bỏ ý thức hời hợt thông thưòng để đạt tới đáy sâu của chính bản thân họ.

–        Một cảm giác khác là cảm tưỏng hướng nội tức là một vận động từ ngoài vào trong, từ ngoại vi vào trung tâm tồn tại của họ.

–        Cảm giác thứ ba là cảm giác đi lên, thăng tiến, được nâng lên một trình độ cao hơn. Hình ảnh tượng trưng như leo núi, lên tới đỉnh núi thường thấy có trong các bằng chứng gắn liền với cảm giác tiếp theo.

–        Cảm giác thứ tư là về lối đi, con đường phải đi.

–        Đặc trưng thứ năm là sự mở rộng của ý thức, có khi đến chóng mặt : những giới hạn chật hẹp của cái tôi tách rời ra bị vượt qua, bị xóa bỏ một lúc, và ngưòi ta có cảm giác tham gia vào một ý thức rộng lớn hơn.

–        Đặc trưng thứ sáu là sự phát triển, sự hoạt bát, cảm giác xóa bỏ tất cả những gì trở ngại, “làm rối” hay khép kín cá nhân mình, như thể mình có thể trồi lên, nảy nở ra.

–        Đặc trưng thứ bảy là được trao cho năng lực, được trao cho sức mạnh ; người đó cảm thấy có một năng lượng lớn hơn tác động trong bản thân mình ; cảm thấy mạnh mẽ hơn, năng động hơn ; cảm thấy sự sung mãn và sự mãnh liệt của tồn tại như đã nói trên đây.

–        Một cảm giác khác rất thường được thuật lại là sự thức tỉnh. Trong nhiều bằng chúng, thấy có những sự diễn đạt như : “Tôi được đánh thức để đi tới một hiện thực cao siêu”, “tôi ra khỏi những bóng tối của các giác quan”, “tôi rời bỏ cuộc sống bình thưòng, như rời bỏ một giấc mơ, để đi tới một trạng thái cao siêu”. Người ta biết rằng tên riêng của Phật là Gautama, và “Phật”, tên hiệu của ngài có nghĩa là “thức tỉnh” (ngộ giác), “hoàn toàn thức tỉnh” (đại giác, đại ngộ).

–        Cũng rất thường thấy có một cảm giác lóe sáng bởi một luồng ánh sáng mới, không phải của trần thế, làm biến đổi bộ mặt của thế giới bên ngoài và cho thấy một vẻ đẹp mới ; nó chiếu sáng thế giới bên trong, “soi sáng” những vấn đề và những mối nghi ngờ, và xua tan chúng đi ; đó là ánh sáng trực giác của một ý thức cao siêu.

–        Cảm giác nói trên nói chung được kèm theo một cảm giác về niềm vui, về sự hoan hỉ có thể đưa tới trạng thái cực lạc.

–        Cùng với những cảm giác đó, hoặc độc lập với chúng, xuất hiện cảm giác về một sự đổi mới, một sự tái sinh, về sự “nảy sinh” một thực thể mới trong cá nhân mình.

–        Rồi có cảm giác phục sinh, có ấn tượng như nảy sinh lại trong một trạng thái đã mất đi, đã bị quên lãng.

–        Cuối cùng, đó là cảm giác về một sự giải thoát nội tâm.

Toàn bộ nhũng đặc trưng này rất phù hợp với những gì toát lên từ những bằng chứng do Maslow tập hợp và nghiên cứu. Ông chỉ ra mưòi bốn trạng thái mà ông gọi là những “giá trị của ý thức tồn tại”. Đó là : cảm giác về sự sung mãn, hòa nhập, về tính toàn bộ ; cảm giác về sự hoàn thiện trọn vẹn, về sức sống, về sự mãnh liệt của cuộc sống ; cảm giác về sự phong phú, nhưng đồng thời cả về sự giản dị ; cảm giác về vẻ đẹp, ý thức về điều thiện, không phải nỗ lực, cảm giác về một sự bột phát, một niềm vui, một sự “hài hước”, một sự hướng tới chân lý, tới tính hiện thực của những gì đã trải qua, nói cách khác, cảm giác cho thấy một cái gì thật, thật hơn những gì được ý thức thông thường biết tới. Cuối cùng, một cảm giác về sự độc lập, về sự giải thoát nội tâm, không cần dựa vào một cái gì khác, về một sự đầy đủ tự thân, được hiểu theo một nghĩa cao cả, tâm linh.

Maslow nói rất đúng rằng tất cả những biểu hiện ấy phụ thuộc lẫn nhau và gắn liền nhau : “Đó là những mặt của tồn tại hơn là những yếu tố của tồn tại”.

Tât cà những cái đó phải tạo ra ở chúng ta một mong ước là chính bản thân chúng ta có được những thể nghiệm đẹp đẽ và quyến rũ như thế. Làm thế nào để có thể kích thích hoặc tạo ra những thể nghiệm ấy ? Trước khi nói tới điều này, tôi phải nói thêm một vài sắc thái đen tối hơn, là những thể nghiệm ấy có thể bao hàm những bất lợi và những nguy hiểm. Nhưng diều này có thể xảy ra hoặc do hiểu và đánh giá sai lạc về những thể nghiệm ấy, hoặc do tính mãnh liệt của chúng. Như tôi đã nói, đánh giá sai nghĩa là coi những thể nghiệm ấy là lạ lùng, không bình thường như những dấu hiệu mất cân bằng tinh thần. Nhưng, nếu bỏ sự lý giải sai lạc đó sang một bên, thì cũng cần thấy rằng, do tính đột ngột và nhất là do tính mãnh liệt của nó, sự nảy sinh các yếu tố siêu thức có thể làm rối loạn sự cân bằng đã có trước đo (Ít nhiều là có thực) của một người bình thường và có thể tạo ra ở người đó những phản ứng như bị kích động quá mức hay bị lac hướng. Ngay cả một người đang đi lên những trình độ cao hơn cũng có thể cảm thấy có những khó khăn và rối loạn. Tòi không thể dừng lại ở đây, vì chúng ta sẽ còn nói tới điều đó sau này. Hơn nữa, tôi cũng đã bàn về vấn đề này trong một tiểu luận : “Sự phát triển và những rối loạn tâm thần – thân kinh”.

Dù thế nào đi nữa, những thể nghiệm ấy ẩn giấu những cái lợi và một giá trị quan trọng hơn nhiều so với những rối loạn mà chúng ta có thể cảm thấy trong thời gian đầu. Thật vậy, những thể nghiệm ấy giúp đỡ chúng ta một cách có hiệu quả để giải quyết tất cả các vấn đề của con người, cá nhân hoặc tập thể, hoặc để góp phần giải quyết chúng. Những thể nghiệm ấy có hiệu quả như vậy vì đã cho phép chủ thể đặt lại những vấn đề của mình trong khuôn khổ một hiện thực rộng lớn hơn, đưa chúng vào những cân đối đúng, đánh giá chúng một cách khác đi và đúng hơn. Bằng cách đó, các vấn đề sẽ không làm cho người đó bận tâm nữa, hoặc sẽ được soi sáng bằng một ánh sáng cao siêu, trong đó các giải pháp hiện ra rõ ràng.

Tôi xin đưa ra vài ví dụ. Một trong những nguyên nhân lớn nhất của đau khổ và ứng xử sai lầm là sợ hãi : sự lo lắng của cá nhân và những nỗi sợ của tập thể có thể đưa tới chiến tranh. Thế nhưng, sự thể nghiệm về hiện thực siêu thức sẽ xóa bỏ đi nỗi sợ : cảm giác sợ hãi không thể đi đôi với việc có ý thức về sự sung mãn và về sự thường hằng của sự sống. Một nguyên nhân khác của những sai lầm và đau khổ là xung lực gây hấn, dựa trên các cảm giác về sự cô lập, sự thù địch, sự oán thù. Trong không khí thanh thản của cái siêu thức, những xung lực và cảm giác ấy sẽ không thể tồn tại được nữa. Những ai có một ý thức rộng lớn hơn. một ý thức chia sẻ và thống nhất với tất cả mọi người sẽ không thể đánn nhau được nữa : họ thấy điều đó là vô lý : đó chính là đánh vào bản thân mình ! Như vậy, những vấn đề nghiêm trọng nhất, đáng lo ngại nhất sẽ được giải quyết, sẽ bị loại bỏ bằng sự mở rộng, sự đi lên của ý thức tới trình độ một Hiện thực cao siêu.

Trước khi kết thúc sự xem xét ngắn gọn này về cái siêu thức, cần nhấn mạnh sự khác nhau giữa nó và Ngã tâm linh, như đã được vẽ trong sơ đồ của chúng tôi về cấu trúc tâm lý của con nguời. Thông thường, người ta không phân biệt hai cái đó, vì những nội dung của cái siêu thức, nhất là ở những trình độ cao của nó, rất gần với Ngã và, ở một mức độ nào đó, cũng có những đặc trưng giống nhau. Nhưng giữa hai cái đó có một sự khác nhau căn bản : trong cái siêu thức có những yếu tố, những “nội dung” thuộc các loại khác nhau mang tính tích cực, năng động, biến đổi, tham gia vào toàn bộ đời sống tâm lý. Ngược lại, Ngã là bất động, tĩnh, không biến đổi ; vì thế, nó khác với cái siêu thức.

Điều quan trọng là phải nhớ rõ sự phân biệt ấy còn do ý thức về sự thường hằng, về tính ổn định được chuyển từ Ngã tâm linh sang cái phản ánh nó, cái tôi hữu thức của cá nhân, dù bị giảm bớt đi và bị che đậy. Chính Ngã tâm linh đem lại ý thức về sự thường hằng, về căn tính cá nhân, thông qua tất cả những biến đổi và xen kẽ của các trạng thái tâm hồn chúng ta, không có liên quan với những nội dung thường biến đổi và thay thế nhau của ý thức. Tuy chúng ta liên tục đồng nhất bản thân mình với những vai trò khác nhau của mình, với những tiểu nhân cách (Sous – personnslités) khác nhau của mình và với những ý thức khác nhau thường chiếm giữ trường ý thức của mình, nhưng mỗi người từ trong sâu thẳm của mình đều biết rằng mình bao giờ cũng là thế cả. Nếu đôi khi có ai đó, nhân có một biến đổi quan trọng xẩy ra trong đời họ, có thể nói rằng : “Tôi không còn tự nhận ra mình được nữa”, thì trên thực tế, điều đó có nghĩa là : “Cái mà tôi tự đồng nhất với nó trước đây đã biến mất, và bây giờ tôi tự đồng nhất với một cái khác”. Nhưng, dù nói rằng : “Tôi không còn tự nhận ra mình được nũa”, thì điều đó cũng bao hàm, một cách nghịch lý, một kế tục nằm bên dưới đó. Nếu không phải như thế, thì cảm giác không tự nhận ra được mình nữa cũng không thể tồn tại, theo nghĩa là cảm giác đó dựa trên một sự so sánh, một sự đối chiếu giữa trạng thái ý thức hiện thời và trạng thái trước đây. Như vậy, đặc trưng chủ yếu của ý thức về ngã là tính liên tục, tính thường hằng ; nhưng tính thường hằng này của cái tôi hữu thức chỉ là một sự phản ảnh mờ nhạt thực chất vĩnh cửu và bất tử của cái Tôi tâm linh, của Ngã mà thôi.

Trong biểu đô trên đây, Ngã được đặt ở đỉnh cao nhất của ngoại vi nhân cách, một phần nằm trong đó, có quan hệ kế tục với cái siêu thức, và một phần nằm bên ngoài. Điều đó nói lên bản chất hai mặt, vừa cá nhân vừa phổ biến, của nó. Điều đó có vẻ nghịch lý, khó hiểu đối với tinh thần, đối với ý thức cá nhân thật, nhưng đó là một trạng thái ý thức có thể và, trên thực tế, đã được thể nghiệm, đã được trải qua, vào một số thời điểm đi lên và “ra khỏi” những giới hạn của ý thức thông thường. Vào những thời điểm này, người ta có cảm giác mở rộng ra không giới hạn, bị xâm chiếm bởi một niềm vui mãnh liệt, một cảm giác hạnh phúc. Đó là một thể nghiệm về căn bản không thể tả được thành lời.

Ở đây, người ta đi vào sự tiếp xúc với cái Huyền bí, với Hiện thực tối cao. Người không thể nói được gì hết. Ngưòi ta đang ở bên kia bờ cõi của khoa học, của tâm lý học. Tuy nhiên, sự tổng hợp tâm lý có thể giúp tới gần điều đó, đến ngưỡng của nó, và như vậy là đã quá nhiều rồi.

Trích từ sách “Sự phát triển siêu cá nhân” – Roberto Assagioli

Nghiên cứu tôn giáo
Ta có thể ẩn mình trong vỏ hạt dẻ những vẫn là Thượng Đế của vũ trụ vô biên.
Share:
Nghiên cứu tôn giáo

Leave a reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *