Lịch sử Tôn giáo - Tâm Linh

Lịch sử Tây Tạng (2): Từ thời triều Thanh bảo hộ trở về sau

TRIỀU THANH XÁC LẬP CHỦ QUYỀN TẠI TÂY TẠNG.

Dân tộc Tây Tạng xưa kia vốn là một chi hệ của dân tộc Trung Hoa, ngay cả hiện nay dân Tây Tạng cũng không nghĩ họ là người Ấn Độ. Chẳng qua là từ thời nhà Đường mà sử ghi là “có sự tiêp xúc qua lại” giữa Thổ Phồn với nội địa Trung Quốc, còn Tây-Tạng thì chối từ họ không thuộc chủ quyền của Trung Quôc.

Mãi đến khi nhà Mãn Thanh hưng khởi bèn đem Nội Mông đặt dưới quyền kiểm soát của mình, nhân việc nầy Cô Thỉ Hãn từ Tây Tạng trở về lại Nội Mông Cổ để cùng đức Đạt Lai Lạt Ma vào chầu triều đình Mãn Thanh (triềuThanh-Thế-Tổ, niên hiệu Thuận Trị thứ chín-1652). Do hoàng đế Mãn Thanh có tín ngưỡng Hoàng giáo và đãi ngộ đức Đạt Lai đời thứ năm, việc nầy từng khiến cho Ngoại Mông cổ cũng nhân đó mà bị phụ thuộc Trung Hoa. Kịp đến đời Thanh-Thành-Tổ, năm Khang-Hy hai mươi mốt (1682), đức Đạt Lai đời thứ năm viên tịch, nhưng quyền thần là Đệ Ba Tang Tiết giữ bí mật không phát tang để nhằm đoạt lấy quyền hành tại Tây Tạng. Do đó, một mặt ông âm thầm liên lạc với Chuẩn Cát Nhĩ Hãn của tây Mông Cổ là Cát Nhĩ Đan, một mặt ông kéo dài sự che dấu đối với triều Thanh, việc nầy kéo dài được mười bốn năm. Mãi về sau khi tin về việc viên tịch của Đạt Lai đời thứ năm bị tiết lộ ra ngoài, thì Tang Tiết liền tuyên bố là đã tìm ra được vị Đạt Lai đời thứ sáu, có tên là La Bốc Tạng Nhân Thanh Trát Dương Gia Mục Thố. Bấy giờ do biết được nội vụ, nên người cháu của Cô Thỉ Hãn là Lạp Tạng Hãn coi Tang Tiết là kẻ nguy bèn bắt nhốt và giết đi. Nhân vụ nầy dẫn đến sự can thiệp của Chuẩn Cát Nhĩ Hãn của Tây Mông cổ vào Tây Tạng, ông nầy cũng bắt giết Lạp Tạng Hãn và tự mình lập một vị Đạt Lai đời thứ sáu. Năm Khang Hy năm mươi chín (1720), triều Thanh cử đại quân tiến vào Tây Tạng để bình định cuộc nổi loạn, sau đó dùng hai cựu thần của Lạp Tạng Hãn là Khương Tề Nãi và Phả La Nãi, phân quyền cho họ trông coi chính vụ của Tiền Tạng và Hậu Tạng.

Thanh Thế Tông, Ung Chính năm thứ năm (1727) lại phát sinh biến loạn ở Tiền Tạng và Khương Tề Nãi bị sát hại, trong sự kiện nầy Phã La Nãi của Hậu Tạng là người có công bình loạn, do đó ông được triều Thanh phong làm “Bối Tử”, và cho tổng lý toàn bộ chính vụ cả Tiền lẫn Hậu Tạng. Mãi hai tháng sau quân của Thanh triều mới đến được Tây Tạng. Nhân thắng lợi nầy, Thanh triều liền buộc nước Bất Đan phải tiếp nhận chủ quyền gốc của Trung Quốc. Lại một lần nữa vin vào việc làm của Phã La Nãi mà Châu Nhĩ Mặc Na Mộc Trát Lặc âm mưu gây biến loạn, nhưng ông nầy được vị “Trú Tạng đại thần” của Thanh triều chiêu dụ và bắt giết. Tử dó về sau triều đình nhà Thanh không còn phong tước Hãn, tước Vương cho Tây Tạng.

Thanh Cao Tông, năm Càn Long thứ năm mươi lăm, năm mươi sáu (1790-1791), Khuếch Nhĩ Khách (Gurka-nay Ni Bạc Nhĩ) hai lần đem quân xâm phạm Tây Tạng, khiến triều Thanh phải cử đại binh từ Thanh Hải tiến thẳng vào Tây Tạng đánh dẹp Khuếch Nhĩ Khách, và nhân thắng lợi lần thứ hai nầy triều Thanh buộc Ni Bạc Nhĩ công nhận chủ quyền gốc của Trung Quôc, cũng qua đó quân uy nhà Thanh vang dội khắp vùng. Đối với vấn đề chính trị và tôn giáo của Tây Tạng; về bản chất, nhà Thanh vừa biến cải vừa đặt ra quy định mới. Đồng thời nhà Thanh cũng tăng thêm quyền lực cho vị đại thần của mình đang đồn trú tại Tây Tạng, vị đại thần nầy nắm quyền giải quyêt tất cả mọi việc cả về chính trị lẫn tôn giáo ở Tây Tạng, quyền hạn của vị “trú Tạng đại thần” ngang bằng với Đạt Lai và Ban Thiền. Đạt Lai và Ban Thiền muốn điều tấu việc gì lên hoàng đế Đại Thanh cũng đều do vị đại thần chuyển tấu.về quan hệ đôi ngoại, nếu có trao đổi qua lại giữa Tây Tạng với các vương quốc như: Ni Bạc Nhĩ, Bât Đan và Triêt Hùng v.v… cũng phải do vị đại thần chủ trì. Vấn đề “Hoạt Phật chuyển thế” thì Đạt Lai và Ban Thiền không được che dấu và làm rối loạn. Để giải quyết vấn đề Hoạt Phật chuyển thế, vị Trú Tạng đại thần cho đặt “Kim Bôn Ba Binh”ở Lạp Tát, sau khi tình báo cho biết là đã tìm được hậu thân Đạt Lai Lạt Ma thì cả ba phía:Trú Tạng đại thần, Đạt Lai và Ban Thiền phải dùng phương thức rút thẻ để đi đến quyết định.

Theo Hoàng Phấn Sinh tác giả cuốn “Nghiên cứa biên cương Chính Giáo’’ (Thương vụ tàng bản- trang 82, 83) thì quyền lực cùa vị Trú Tạng đại thần trong thời kỳ nầy được quy nạp thành bảy điều khoản:

Vị Trú Tạng đại thần được quyền bình đẳng với Đạt Lai và Ban Thiền.

Trú Tạng đại thần được quyền tuyển dụng và bãi miễn các quan văn, võ.

Trú Tạng đại thần được quyền giám đốc và chỉ huy quân sự.

Trú Tạng đại thần được quyền giám định vị Đạt Lai Lạt Ma chuyển thế (Tái sinh).

Trú Tạng đại thần được quyền giám đốc và thẩm hạch tài chính.

Trú Tạng đại thần được quyền kiểm tra thông tin.

Trú Tạng đại thần được quyền quy hoạch hệ thống giao thông.

Trên thực tê, khi thực thi những điều khoản trên là đem toàn bộ quyền hạn về chính trị, kinh tế, quân sự, tôn giáo và giao thông đặt vào tay vị Trú Tạng đại thần của nhà Mãn-Thanh. Vì vậy, Tây Tạng chỉ lấy lại được chủ quyển hoàn toàn vào cuối đời Càn Long.

Sau khi vua Càn Long băng hà, Thanh triều cũng theo đó mà dần dần suy vi, đối với Tây Tạng Thanh triều cảm thấy không còn đủ sức khống chế, một khi triều Thanh không còn khả năng bảo hộ , Tây Tạng tránh được những cuộc nỗi loạn bên trong cũng như bên ngoài, vì thế mà Tây Tạng dần dà thoát ly khỏi sự bảo hộ của triều Thanh. Cạnh đó quyền lực của Đạt Lai Lạt Ma ngày càng được khuếch trương, đến đời vị Đạt Lai thứ mười ba, đầu tiên là do quân Anh quốc xâm lăng Tây Tạng nên Ngài phải chạy đến Bắc Kinh cầu cứu, nhưng lúc này triều đình nhà Thanh hôn dung nhu nhược chẳng giúp dược gì, do đó đức Đạt Lai về lại Tây Tạng, sau vì hoàn cảnh bức bách, Ngài từ một người chống Anh quốc trở thành người thân Anh (quốc), và đào vong sang Ấn Độ. Lúc vị hoàng đế cuối cùng của nhà Thanh thoái vị, nhân đó đức Đạt Lai liền tuyên bố Tây Tạng độc lập.

NGƯỜI ANH KINH LƯỢC TÂY TẠNG.

Tây Tạng nằm ở vị trí trung tâm của cao nguyên Châu Á. Với thế giới, Tây Tạng xưa nay được coi là vùng đất phong cấm; ngoài việc tiếp xúc với Trung Quốc, người phương tây tuyệt nhiên không có đường dẫn đến Tây Tạng. Mãi đến đời vua Minh Hy Tông; năm Thiên Khải thứ tư (1624), các giáo sĩ Thiên Chúa giáo người Bồ Đào Nha là An Đăt Lộ Địch (Antienio Andrade) và Mã Nhĩ Khuê (Mamuel Margues) vượt Hy Mã Lạp Sơn vào Tây Tạng thuộc vùng Sát Mạt Lãng (Tran-Arang) ở tây bộ Tây Tạng, tại đây họ lập một nhà thờ Thiên Chúa giáo.

Vào đời Thanh Cao Tông, Càn Long năm ba mươi ba(1768), Công ty Đông An của Anh quốc quyết định tiến hành điều tra Tây Tạng, hy vọng sẽ thiết lập thương vụ tại Tây Tạng, Càn Long năm ba mươi chín (1774), viên tổng đốc người Anh đồn trú tại Mãnh Gia Lạp là Cáp Tư Định Tư (Hastings) phái một sứ bộ vào Tây Tạng phỏng vấn Ban Thiền, trong cùng thời gian nầy người Anh không ngừng dùng vũ lực áp đặt và xâm chiếm lãnh thổ Bất Đan, về phương diện tôn giáo, Bất Đan chịu sự lãnh đạo của Ban Thiền. Có thể nói người Anh cử sứ bộ đến Tây-Tạng là có ý đồ muôn xâm lăng và thôn tính Tây Tạng.

Thanh Nhân Tông, năm Gia Khánh mười chín (1814), người Anh mượn cớ vùng biên cảnh có xung đột nhân đó đưa quân xâm chiếm Ni Bạc Nhĩ, hai năm sau Ni Bạc Nhĩ bị buộc phải ký thoả ước cắt đất giao cho Anh quốc. Thanh Mục Tông, Đồng Trị năm thứ tư (1865), người Anh nhân việc Bất Đan làm nhục sứ thần của họ, họ liền tấn công Bất Đan và cũng buộc Bất Đan ký hiệp ước nhượng địa cho ho, trước đó vào đời Thanh Văn Tông-năm Hàm Phong mười một (1861), người Anh cũng đã bức bách Tích Kim phải công nhận Anh quốc là nước bảo hộ. Lúc Phã La Nãi còn cai trị Tây Tạng thì Bất Đan và Tích Kim đều hướng về Tây Tạng nạp cống, chưa nói là về tôn giáo hai nước nầy nhất hướng thuộc về hệ thống tín ngưỡng của Tây Tạng, và người Tây Tạng cũng cảm nhận được rằng mối quan hệ giữa họ với Bất Đan và Tích Kim như môi với răng, hễ môi hở thì răng lạnh.

Thanh Đức Tông, năm Quang Tự hai mươi chín (1903), viên Tổng đốc là Khấu Tôn (Lord- Curjon) trú tại Ấn Độ nhân những thắng lợi của quân Anh ông ta đòi mở cuộc hội thảo để bàn về vấn đề biên cảnh, địa điểm tổ chức mà y đưa ra dứt khóat là tại Lạp Tát, với lập trường như vậy, ông bèn sai Thượng hiệu là Vinh Xích Bằng (Colonel Younghasband) xuất quân xâm chiếm Tây Tạng. Đâu tháng tám năm sau quân Anh trực chi Lạp Tát. Kêt quả, Anh quốc ra điều kiện: chính phủ Trung Quôc phải đại diện cho Tây Tạng bồi thường cho họ năm mươi vạn bảng Anh tiền chiến phí, đối lại, người Anh sẽ công nhận chủ quyền gốc của Trung Quôc tại Tây Tạng. Trước giờ người Anh đã có ý thôn tính Tây Tạng nhưng mãi đến năm Đồng Trị thứ mười (1871) họ mới thực hiện. Trong khi đó, nước Nga cũng liên tục phái người đên Mông Cổ, Tây Tạng và Thanh Hải đế điều tra các địa khu nầy, nhưng người Nga lại nhờ Bôi Gia Nhĩ và Hồ Chu Biên là những người có cùng tín ngưỡng Lạt- ma giáo với Bô Lý Nhã Đặt người Mông Cổ để họ cùng nhau thường lui tới Tây Tạng nhằm giúp Tây Tạng khai thông và mở cửa giao tiếp với nước Nga, cũng cùng thời gian nầy, hai nước Anh-Nga rất lo ngại thế lực của Đức quốc, vì Đức bấy giờ đang khuếch trương và uy hiếp châu Au. Do đó, thay vì xẫy ra xung đột giữa hai nước Nga, Anh, thì cả hai lại tạo hoà hoãn về vấn đề Tây Tạng. Nếu chẳng phải vậy ắt Tây Tạng đã phải chịu sự bảo hộ của Anh quốc và điều đó chẳng có gì phải nghi.

  • Vấn Đề Tây Tạng đầu thê kỷ hai mươi về sau.

Khi Vinh Xích Bằng đang tiến quân xâm nhập Lạp Tát, thì đức Đạt Lai đời thứ mười ba đang ở Thanh Hải bèn chạy đến Bắc Kinh. Sau đó giữa Ngài và Bắc Kinh không thoả hiệp được với nhau, nên năm sau ngài trở về Tây Tạng, Thanh triều liền phái đại quân vào Tây Tạng để trấn áp đức Đạt Lai. Trong tình cảnh bức bách, đức Đạt Lai chuyển hướng chạy sang Ấn Độ cầu thân với Anh quổc, biết được việc làm nầy của đức Đạt Lai, triều Thanh liền bãi trừ danh hiệu Đạt Lai và thúc giục đức Đạt Lai hãy bẻ gãy kế hoạch của người Anh.

Mãi đến nay những người Tây Tạng từng tiếp thu nền giáo dục của Anh quốc hãy còn rất nhiều, họ là những người mang chất liệu kiên trúc của phương Tây vào Tây Tạng đề kiên thiêt xứ sở mình.

Sau cuộc cách mạng Tân Hợi (1911), quận Tứ Xuyên đang trú đóng tại Tây Tạng lại gây biên loạn, nhưng mãi đến năm Dân quốc thứ hai, thứ ba (1913-1914) mới được người Anh đứng ra điều giải, họ mở hội nghị tại Tây Mổ Lạp ở Ấn Độ. Trung Quốc phái Tuyên vũ sứ tại Tây Tạng là Trần Di Phạm làm đại biểu phó hội, Tây Tạng thì do Cát Luân Hà Cát là người thân Anh nên được cử làm đại biểu tham dự hội nghị, còn Anh quốc thì lấy Ngoại vụ đại thần tại Ấn Độ là Mạch Khắc Mã Hồng (Sir-Mcmahon) làm đại biểu. Kết quả, người Anh lấy tư thế trung gian và đưa ra chủ trương là chiếu theo lệ cũ của Mông cổ chia Tây Tạng ra thành Ngoại Tạng và Nội Tạng. Người Anh lảy đại bộ phận của tỉnh Thanh Hải và một bộ phận của tỉnh Tứ Xuyên, và góc tây bắc của tỉnh Vân Nam quy hoạch thành Nội Tạng (phần còn lại thuộc ngoại Tạng), Nội Tạng thì thuộc về Trung Quốc. Nhưng chính phủ Trung ương không được can thiệp vào công việc nội chính của Ngoại Tạng, không được thiết lập quan viên văn võ và gởi quân đội đến đồn trú ở Ngoại Tạng. Như thế là người Anh dời biên   giới Ẩn Độ về phía bắc, băng cách lấy phía đông Đại Vượng Đề Lang Tông của Bất Đan cho đến góc lãnh thổ phía nam của Tây Khương quy nhập về lãnh địa của Ấn Độ. Đường ranh giới nầy được gọi là “Mạch Khác Mũ Hồng Tuyến”. Điều ước nầy được viết thành văn, đại biểu Trần Di Phạm của triều Thanh cũng có ký tên, nhưng chung cuộc nó không được chính phủ Trung Quốc thừa nhận. Do đó, mãi đến nay vấn đề phân định ranh giới giữa hai nước Ấn Độ và Trung Quốc vẫn còn là vấn đề lớn chưa được giải quyết xong. Do bị triều đình nhà Thanh bức bách, nên đức Đạt Lai đời thứ mười ba mới chuyển hướng thân Anh. Năm Dân quốc mười hai (1923) giữa Đạt Lai và Ban Thiền có sự bất hoà, Ban Thiền chạy đến Bắc Kinh và có khuynh hướng thân Trung Quốc. Trong khi đó tại Tây Tạng đức Đạt Lai nắm trọn quyền bính. Dân quốc năm mười bảy (1928), quân đội Cách mạng Trung Quốc bắc phạt thành công, đức Đạt Lai liền phái người hướng về chính phủ Trung ương ở Bắc Kinh đế bàn việc thiết lập lại quan hệ giữa Tây Tạng và Trung Quốc. Năm Dân quốc hai mươi hai (1933), đức Đạt Lai đời thứ mười ba viên tịch; năm Dân quốc hai mươi sáu (1937), Ban Thiền dự định trở về Tây Tạng, nhưng chưa kịp khởi hành thì viên tịch tại Ngọc Thụ ở Thanh Hải, năm Dân quôc hai mươi tám (1939), chính phủ Trung ương phái Ủy Viên Trưởng Mông Tạng Ủy Viên Hội là Ngô Trung Tín vào Tây Tạng chủ trì lễ đăng quang của Đạt Lai đời thứ mười bốn, đồng thời thiết lập tại Lạp Tát “Đệ Nhất Nhậm Trú Tạng Biện Sự Xứ” Dân quốc năm ba mươi tám (1949), Trung ương lại phái Uỷ Viên Trưởng Mông Tạng Uỷ Viên Hội là Quang Kiết Ngọc đến Tây Ninh chủ trì lễ đăng quang của Ban Thiền đời thứ chín.Sau đó không lâu, chính phủ Quôc Dân Đảng buộc phải triệt thoái khỏi lục địa Trung Hoa đế chạy sang Đài Loan, và như vậy Tây Tạng lại được chính phủ của Đảng Cộng Sản Trung Quốc tiếp quản.

Tháng 10 năm 1950 Nhân Dân Giải Phóng Quân tiến vào Xương Đô của Tây Khương. Tây Tạng liền phái đại biểu đến Bắc Kinh đế ký “Hoà Bình Giải Phóng Tây Tạng Hiệp Nghị” gồm mười bảy điều với chính phủ Trung Quốc; nội dung như sau :

Trục xuất thế lực xâm lược của chủ nghĩa đê quốc ra khỏi địa khu Tây Tạng.

Hợp sức trợ giúp Nhân Dân Giải Phóng Quân đến đồn trú tại Tây Tạng.

Chính phủ Trung Quôc thừa nhận địa phương Tây Tạng được tự trị.

Chính phủ Trung Quôc bảo chứng quyền lực của Đạt Lai Lạt Ma và thể chế chính trị của Đạt Lai được tiếp tục tồn tại.

Chính phủ Trung Quốc bảo chứng quyền lực của Ban Thiền cũng như địa vị của Ban Thiền.

Địa vị của Đạt Lai đời thứ mười bốn cùng với Ban Thiền đời thứ chín vẫn được giữ y như trước, nhưng hai bên phải hỗ tương hợp tác với nhau.

Tôn trọng tín ngưỡng tôn giáo và phong tục tập quán của nhân dân, bảo hộ sự thu nhập cúa Đạt Lai Lạt Ma.

Biến cải quân đội Tây Tạng thành Nhân Dân Giải Phóng Quân.

Phát triển ngữ văn Tây Tạng cùng nền giáo dục và trường ốc.

Phát triển các ngành nghề: nông, mục, công, thương của Tây Tạng.

Mọi cải cách của Tây Tạng giao cho chính quyền địa phương.

Những người trước đây thân chủ nghĩa đế quốc và Quốc Dân Đảng, không được cử giữ các chức vụ quan lại ở các cấp.

Trung Quốc đưa quân đội đồn trú đên Tây Tạng để duy trì kỷ cương.

Công việc đối ngoại, giao thiệp đều do chính phủ đại lục thống nhất xử lý.

Để bảo chứng bản hiệp định này được thực thi, càn lập Quân Chính Ủy Viên Hội và Bộ tư lệnh quân khu.

Kinh phí của Quân Chính Ủy Viên Hội, Bộ tư lệnh quân khu và quân đồn trú tại Tây Tạng do Trung ương đại lục đảm trách.

Bản hiệp định này có hiệu lực ngay sau khi được ký kết.

Trích từ sách “Lịch sử Phật giáo Tây Tạng”

Nghiên cứu tôn giáo
Ta có thể ẩn mình trong vỏ hạt dẻ những vẫn là Thượng Đế của vũ trụ vô biên.
Share:
Nghiên cứu tôn giáo

Leave a reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *