Khái niệm Tôn giáo - Tâm linh

SỰ BÀNH TRƯỚNG CỦA Ý THỨC: THĂM DÒ VÀ CHINH PHỤC NHỮNG THẾ GIỚI NỘI TÂM

Hiện nay, loài người đang ở trong trạng thái khủng hoảng nghiêm trọng về mặt cá nhân cũng như tập thể: một cảm giác không thỏa mãn, bất mãn đối với đời sống thông thường đang lan rộng; người ta đi tìm một “cái gì đó” khác hơn. Không cần phải nhấn mạnh điều đó, vì nó là một hiện thực rất quen thuộc và thường xuyên bộc lộ trước mắt ta. Sự tìm kiếm một cái gì đó khác hơn, sự nổi loạn chống lại đời sống thông thường ấy biểu hiện bằng hai cách, mà cả hai đều viện tới sự bành trướng của ý thức. 

Cách thứ nhất đưa tới sự phát triển nhận thức của chúng ta về thế giới bên ngoài, nhất là đưa tới sự khám phá, chinh phục và thống trị không gian bằng những chuyến bay trên trời và trong vũ trụ. Song song với điều đó, nhiều hoạt động được triển khai nhằm chế ngự và sử dụng tất cả các lực của tự nhiên, cho tới cả năng lượng hạt nhân.

Con đường thứ hai của sự bành trướng ý thức nằm ở sự nhận thức thế giới nội tâm, hoặc nói đúng hơn, các thế giới nội tâm. Do đó mà người ta ngày càng quan tâm hơn tới tâm lý học (nhất là để thăm dò cái vô thức), những sự tìm kiếm về bản chất của năng lượng tâm lý, về những quy luật chi phối nó và việc sử dụng nó cũng như lạm dụng nó (quá thường thấy!).

Vì thế, tôi thấy cần thiết phải làm rõ một số vấn đề, xác định tình huống hiện thời, trình bày những phương hướng và những sự phát triển hiện nay và chỉ ra những con đường có thể được dùng và những kỹ thuật phải dùng. Bây giờ tôi sẽ vạch ra những đường hướng lớn của những chủ đề khác nhau sẽ được bàn chi tiết trong những chương sau đây.

Sự mở rộng ý thức có thể được thực hiện theo ba hướng: 1. đi xuống ; 2. đi ngang ; 3. đi lên.

  1. Đi xuống, người ta có thể thăm dò cái vô thức thấp hoặc để cho nó lộ ra trong trường ý thức. Đó là lĩnh vực của “tâm lý học về các chiều sâu” (psychologie des profondeyrs) và đặc biệt của phân tâm học. Người ta đi vào lĩnh vực này vì những lý do thực tiễn, trị liệu hay giáo dục; điều đó có thể là bổ ích. Nhưng có những lý do khiến cho người ta rối nhiễu: đó có thể là sự lôi cuốn của những vùng thấp, sự quyến rũ của những mặt nguyên sơ và bản năng của bản chất con người. Sự quyến rũ ấy biểu hiện rõ ở chỗ thích thú với những cuốn sách, những bộ phim hay những vở diễn được phổ biến rộng rãi nhằm kích thích bạo lực và những trạng thái bệnh hoạn. Khốn thay, một vòng luẩn quẩn đã hình thành: sự thích thú đối với những thứ bẩn thỉu lại được nuôi dưỡng, được cường điệu bởi những kẻ chăm vun chúng và cung cấp những cuốn sách hay những vở diễn ngày càng tệ hại, vì những lý do kinh tế, vì ham mồi. Những cảnh khủng khiếp cũng được biểu hiện ở những bức tranh của các hoạ sĩ hiện đại. Sức lôi cuốn của cái ác ấy đã được Erich Fromm mô tả tinh vi trong cuốn sách của ông Trái tim con người. Rollo May cũng nói tới sự quyến rũ của “quỷ dữ” trong Tình yêu và ý chí, nhưng không phân biệt rõ những trình độ khác nhau.
  2. Hướng thứ hai trong đó ý thức muốn mở rộng ra, có thể nói là theo chiều ngang, là tham gia với những người khác, thậm chí tự đồng nhất với họ, vào tự nhiên, vào các sự vật. Đó là xu hưóng trốn tránh ý thức về cá nhân mình và tự vùi sâu vào ý thức tập thể. Cần phải nhắc lại rằng ý thức tập thể có trước ý thức về cái tôi cá nhân; chúng ta thấy có nó ở những người nguyên thủy, ở trẻ em và, ở một múc độ nhỏ hơn, ở các nhóm người khác nhau: các phe phái xã hội, quân sự hay nghề nghiệp mà cá nhân tự đồng nhất với chúng.

Những mặt tốt nhất của sự mở rộng của ý thức theo chiều ngang ấy là sự tự đồng nhất với tự nhiên dưới những mặt khác nhau của nó, cũng như với sự sống vũ trụ nói chung, và cảm giác tham gia vào sự sống và sự sinh thành phổ biến.

  1. Hướng thứ ba, đi lên, được hướng tới những trình độ của cái siêu thức, những trình độ siêu cá nhân. Sự mở rộng của ý thức có thể được thực hiện ở đây theo hai cách khác nhau: cách thứ nhất là đi lên tới trung tâm của ý thức, cái tôi, tới những trình độ ấy, còn cách thứ hai là mở ra cho năng lượng đến từ những trình độ cao tràn ngập vào.

Như vậy, diễn ra một sự tương tác ngày càng tăng giữa cái tôi hữu thức và những trình độ của cái vô thức. Mặt cao nhất của nó là tiếp xúc với Ngã siêu cá nhân. Hãy nhớ rằng cái tôi hữu thức là một “phản ánh” của Ngã, do đó về căn bản nó cũng có cùng bản chất, tuy bị làm suy giảm, bị “nhuốm màu” bởi những nội dung thuộc trình độ trung bình của nhân cách. Khi, với một số bài tập (chủ yếu là bài tập giải sự tự đồng nhất), người ta đạt tới chỗ loại bỏ được những nội dung ấy, thì cái tôi hữu thức có xu hướng đi ngược lên tới nguồn gốc của nó.

Những mô thức và những hiệu ứng khác nhau của sự siêu việt ấy, nhất là theo hướng đi lên, đã được Maslow trình bày đầy đủ trong bài viết của ông “Những ý nghĩa khác nhau của sự siêu việt”, công bố trên Tạp chí tâm lý học siêu cá nhân (mùa Xuân 1969). Trong dó, ông phân biệt ba mươi lăm hình thức hay diện mạo.

Thông thường, sự khác nhau giữa ba hướng bành trướng ý thức nói trên không được thừa nhận, và về vấn đề này đang có một sự lẫn lộn lớn, do đó cần phải nhấn mạnh sự khác nhau ấy. Nhưng, từ bây giờ, tôi sẽ chủ yếu bàn tới hướng đi lên, tới mối quan hệ với những trình độ siêu cá nhân, với cái siêu thức, và đặc biệt bàn tới cách tiếp thu, nghĩa là sự đi xuống – mà đôi khi đó là một sự xâm nhập thật sự – của những nội dung siêu thức tới trình độ thưòng thấy của cái tôi hữu thức.[1] 

Một sự đi xuống như vậy có thể xảy tới một cách tự phát hoặc được gây ra. Kiểu được biết tới nhiều nhất của sự đi xuống là ngẫu hứng (inspiration). Những nội dung của cái siêu thức có thể đi vào ý thức dưới những hình thức khác nhau: chúng có thể không có hình dạng, ở trạng thái thô hoặc nửa chế biến; hoặc trong những trường hợp khác, chúng có thể được cấu trúc chặt chẽ, dưới một hình thức dứt khoát hay gần như thế. Điều đó chủ yếu thường xảy tới trong ngẫu hứng âm nhạc. Một ví dụ tiêu biểu là Mozart, với những bố cục hoàn chỉnh hiện lên trong ý thức mà ông không cần làm một chỉnh lý nào cả. Trái lại, khi chất liệu đến trong trạng thái thô, nó thường hiện lên dưới một hình thức ngôn từ, theo một phong cách kỳ lạ, không tuân theo các quy tắc ngữ pháp. Một ví dụ tiêu biểu của điều đó là văn học siêu thực. Nhưng thứ văn học này cũng đến từ những trình độ khác nhau của cái vô thức, kể cả những hình thức thấp.

Kiểu đi xuống đơn giản nhất của những nội dung siêu thức là trực giác. Có thể so sánh nó với một ngọn đèn chiếu sáng hay làm sáng lóe lên ý thức được thức tỉnh trong một thời gian tương đối lâu. Trực giác có thể biểu hiện trong tất cả các lĩnh vực, kể cả các lĩnh vực triết học và khoa học. Tôi xin dẫn ra đây một câu nói đẹp đẽ của Einstein về trực giác :

Vật lý quy nạp đặt ra những vấn đề mà vật lý diễn dịch chưa thể trả lời được. Chỉ có trực giác, tương tự với mối liên hệ gắn bó hai người yêu nhau, mới có thể cho phép nhận thức đi quá những giá trị lôgic.

Nói chung, các nghệ sĩ lớn, các nhà văn và nhà thơ lớn đều phải trau dồi lại một cách có ý thức vật liệu đã nổi lên hay đi xuống cái hữu thức của họ. Một ví dụ tiêu biểu là Dante. Trong Hài kịch thần thánh, ông đã trả lời cho Bonagiunta về ngẫu hứng của mình như sau :

Và tôi trả lời: tôi là một kẻ ghi nhận khi tình yêu mang lại ngẫu hứng, và là kẻ để lộ ra ngoài những gì nghe thấy bên trong.

Trong tác phẩm này, những sự cầu viện Nàng thơ của ông trên thực tế là những sự cầu viện cái siêu thức, cầu viện Ngã tâm linh. Tuy nhiên, sau đó ông đã xây dựng một cách có ý thức thứ vật liệu ngẫu hứng ấy và đem lại cho nó một hình thức chặt chẽ: những khổ thơ ba câu có vần điệu của Hài kịch thần thánh và một số Khúc ca cố định trong mỗi phần của ba phần Thánh ca. Ông nói rõ điều đó ở đoạn cuối của Nơi chuộc tội :

Nhưng, vì tôi đã dự tính dành hết những trang giấy này

Cho phần Thánh ca thứ hai,

Các quy tắc nghệ thuật không cho phép tôi làm khác đi.

Có nhiều phương pháp khác nhau để gây ra hoặc thúc đẩy mạnh mẽ sự đi xuống tới ý thức được thức tỉnh của những yếu tố siêu cá nhân.

Một trong những phương pháp giản dị nhất, nhung cũng có hiệu quả nhất, là vẽ tụ do. Cái vô thức chủ yếu được thể hiện bằng các tượng trưng, và vẽ là một hình thức thích hợp để trực tiếp diễn đại những tượng trưng ấy. Hãy nhớ rằng chữ đầu tiên là chữ tượng hình; nó sử dụng những hình ảnh cụ thể. Ngày nay người ta còn nhìn thấy như vậy ở các chữ tượng hình Trung Quốc. Vần chữ cái có thể được coi như một cách ghi tốc ký, một cách giản lược những chữ tượng hình.

Vẽ tự do thường tạo ra những kết quả đáng kinh ngạc, những “thông điệp” đích thực của cái siêu thức. Một bằng chứng về nguồn gốc của chúng là, trong ý thức được thức tỉnh, người vẽ thường khi tự mình không hiểu được ý nghĩa của hình vẽ. Phải có một chuyên gia về các quá trình tinh thần mới nói lên được ý nghĩa đó cho anh ta và, nói chung, anh ta phải thừa nhận là đúng; anh ta thừa nhận rằng đó đúng là điều anh ta muốn nói, nhưng tự bản thân anh ta thì không phát hiện ra được.

Một phương pháp khác là viết. Dường như viết là một chuyện đơn giản, không có những vấn đề gì lớn, nhưng thật ra đó là một quá trình tinh thần đa dạng và phức hợp. Thông thường, người ta bắt đầu viết ra một điều gì mình đã suy nghĩ, và sau đó, dần dần nảy sinh ra những ý tưởng mới. Dòng tư duy đi theo một hướng thật bất ngờ và điều được diễn đạt còn làm cho chính người viết ra lấy làm ngạc nhiên. Trong một số trường hợp, có thể nói rằng cái vô thức “cầm tay” người viết và thậm chí chính nó viết ra nữa. Một nhà văn rất thông thạo các vấn đề này và là một nhà tâm lý học giỏi, Hermann Keyserling, đã mô tả điều này như sau:

Nói chung, tôi không viết ra vì tôi biết, mà là vì mục đích để biết, bằng cách làm cho hiểu biết tiềm thức của tôi đi lên tới trường nhìn có ý thức của tôi.

Nhưng, ở đây, cần có những sự thận trọng, phải nhận được những sự xác nhận. Trong kiểu cộng tác có nhiều mức độ này giữa cái hữu thức và cái vô thức, thật vậy, người ta có thể chuyển sang giai đoạn “tự động”, trong đó cái tôi hữu thức chỉ tham dự ít nhất, hay chẳng tham dự gì cả, mà rơi vào trạng thái nhập đồng, thôi miên, trong khi tay cứ viết ra. Thế nhưng, kiểu viết này có nhiều bất lợi và thậm chí mang theo những mối nguy hiểm thật sự: người ta mở cửa ra và chẳng biết ai có thể đi vào. Có rất nhiều bản viết bằng lối viết tự động ấy, nhưng giá trị của chúng là rất khác nhau. Một số có giá trị văn học như những tiểu thuyết dài. Đôi khi đó là những kiến thức rất có giá trị mang tính chất tâm linh, hay những cảnh cáo có ích. Nhưng trong phần lớn các trưòng họp, chất lượng của những bản viết tự động ấy rất thấp; rõ ràng đó là do cái vô thức thấp đã “cầm tay” người viết.

Ở đây, một vấn đề đặt ra. Nguồn gốc của những biểu hiện ấy phải chăng cùng là có tính chất ngoài cá nhân (extrapersonnelles), nghĩa là đến từ những nguồn, những trung tâm khác với nhân cách của người viết? Đó là một lĩnh vực rất khó hiểu và phức tạp. Tôi chỉ muốn nói rằng người ta không thể loại trừ những nguồn nằm bên ngoài cái vô thức cá nhân, vì nó luôn luôn tác động qua lại (tôi có thể nói là trong sự “thẩm thấu tâm lý”), ở tất cả các trình độ, với cái vô thức tập thể. Vì lẽ đó, rất khó nói rằng đây là chuyện hoàn toàn cá nhân hay, ngược lại, có một số luôn đến từ cái vô thức tập thể, từ cái thấp nhất đến cái cao nhất. Do đó, cần phải hết sức thận trọng. Trong mọi trường hợp, các thông điệp từ đâu đến chẳng có liên quan gì với giá trị nội tại của chúng.

Một kiểu siêu việt cao khác là sự thăm dò tích cực những trình độ siêu thức, nói cách khác, đó là sự đi lên tự nguyện của cái tôi hữu thức tới những trình độ ngày càng cao hơn. Có nhiều phương pháp để kích thích hay để gây ra sự đi lên ấy của ý thức : Cầu nguyện, thiền định và những lối tập đặc biệt khác. Ở đây tôi chỉ nói ám chỉ mà thôi, bởi vì dưới đây tôi sẽ nói những cách hướng tới cái siêu thức và Ngã tâm linh. Tôi chỉ nói rằng trong mọi lộ trình và ở tất cả các giai đoạn đi lên của ý thức, cần phải dùng tối ý chí. Ý chí là cần thiết để loại bỏ các trở ngại, để duy trì trạng thái tiếp nhận. Nó cần thiết như một cái máy đẩy để đi lên ngày càng cao hơn, để cho ý thức được giữ ổn định ở những trình độ cao và để hướng dẫn cũng như sử dụng các năng lượng đã được giải thoát.

Trong những cách tập luyện đặc biệt, có những bài tập Raja Yoga. Sự đi lên gặp thuận lợi hơn bằng cách sử dụng các tượng trưng thần bí, chẳng hạn tượng trưng leo núi nội tâm như đã nói trên kia. “Sự hình dung có hướng dẫn” là một phương pháp dễ dàng và rất có hiệu quả, cho phép những vật liệu tượng trưng phong phú dồn tới. Nếu được người hướng dẫn tập luyện giải thích, nó sẽ cho phép mở rộng được ý thức đáng kể.

Hãy chuyển sang việc loại bỏ các trở ngại. Các trở ngại có thể được so sánh với những “gánh nặng”, với một “vật cản” gây khó khăn cho sự đi lên của ý thức, hoặc với một “dây thừng”, tượng trưng những sự bám chặt vào các nội dung của nhân cách thông thường cản trở sự đi lên. Những trở ngại ấy có thể đến từ thân thể, từ các xúc cảm, từ sự hình dung, từ tinh thần, từ ý chí và từ môi trường xung quanh.

Đặc biệt quan trọng là nhũng trở ngại có bản chất tự nguyện. Thường cái tôi hữu thức không ham muốn đi lên. Nó cưỡng chống lại, nó sợ cái bí ẩn, sợ những độ cao thấp thoáng. Sự cưỡng chống này được Bác sĩ Franck Haronian gọi rất đúng đó là “sự từ chối cái cao quí”, ông đã mô tả nó trong một bài viết dưới nhan đề ấy. Không hiếm khi sự cưỡng chống này gắn với dự cảm là một số trường hợp có ý thức tâm linh sẽ đòi hỏi người ta nhiều hơn và sẽ đẻ ra những trách nhiệm mà cái tôi vị kỷ hay cái tôi trung tâm từ chối. Một cuộc đấu tranh thật sự lúc đó diễn ra giữa cái tôi hữu thức và Ngã tâm linh, cuộc đấu tranh đã được những nhà thần bí khác nhau mô tả một cách xác đáng, nhất là Thánh Paul và Thánh Augustin đã nhấn mạnh nó.

Rất thường khi những trở ngại quan trọng được môi trường xung quanh dựng lên, từ môi trường trực tiếp của gia đình hay từ môi trường xã hội. Chúng ta đắm chìm trong bầu không khí tâm lý nặng nề và ngột ngạt, đầy sóng gió, đè nén mà chúng ta có thể gọi đó là một thứ sương khói (smog) tâm lý. Nhưng chúng ta không thể nào thoát khỏi được. Nhiều người có xu hướng cho rằng không thể có sự thức tỉnh tâm linh, và đó là tội lỗi của các cấu trúc xã hội, của lối sống duy vật chất hiện thời. Nhưng điều đó không đúng. Người ta có thể vượt qua những trở ngại đó. Ở đây, thấy rõ vai trò không thể thay thế được ý chí. Không được trách móc những ảnh hưởng bên ngoài mà phải cưỡng chống lại chúng, thậm chí đấu tranh với chúng, phải tự bảo vệ và đi lên.

Những cách mở rộng ý thức lên cao hơn là rất khác nhau, chứng phụ thuộc vào các kiểu tâm lý, các tính khí cá nhân. Có thể chỉ ra bảy con đường chính. Cần phải nói ngay rằng những con đường này không tách rời nhau, mà trên thực tế, thường trùm lên nhau từng phần; chính vì thế có người đi theo được nhiều con đường cùng một lúc. Chúng cũng khác nhau và trong thời gian đầu, để được sáng rõ, cần phải mô tả nhận biết từng con đường một, trước khi đạt tới sự phối hợp chúng.

Đó là :

  1. Con đường khoa học.
  2. Con đường soi sáng.
  3. Con đưòng đạo đức – tái tạo.
  4. Con đường mỹ học.
  5. Con đường thần bí.
  6. Con đường anh hùng.
  7. Con đường nghi thức.

Bây giờ chúng ta hãy xem xét những hiệu ứng do sự mở rộng của ý thức tạo ra nhân cách. Cần nhớ rằng những hiệu ứng ấy có thể gây tổn hại, điều đó cũng đúng cả với sự mở rộng ý thức lên cao. Trên thực tế, những sự đột nhập, đôi khi bất ngờ và thậm chí mãnh liệt của những nội dung vô thức vào một ý thức chưa được chuẩn bị hay chưa thống nhất sẽ có thể tạo ra những mất cân bằng. Chúng có thể thoạt tiên gây ra những hứng khởi: cá nhân tràn ngập những sức mạnh mới và hiểu được những tiềm năng cao, vốn có ở cái siêu thức và ở Ngã tâm linh. Sự phát hiện ra Ngã, mà về bản chất cũng giống như Hiện thực tối cao, cùng mang bản chất thần thánh, có thể đem lại một cảm giác hứng khởi cho cá nhân: người ta hình dung mình ở một trình độ cao và đã ở đó rồi, trước khi diễn ra một quá trình biến hoá, tái sinh lâu dài và cần thiết. Điều được cảm nhận như vậy là điều ngưòi ta đã trải qua lúc đại giác. Biểu hiện cao nhất của sự hứng khởi này là lời khẳng định: “Ta là Thượng đế”. Ảo tưỏng ấy là một sai lầm căn bản, có thể được coi như một sự lẫn lộn giữa cái có thể xảy đến về tiềm năng và cái đang có thực. Cũng giống như một quả sồi, khi hiểu được nó có thể trở thành một cây sồi lớn, đã nói: “Ta là một cây sồi”. Về tiềm năng, nó có trong bản thân nó tất cả những gì cần có để trở thành cây sồi, nhưng hiện thời nó chưa có; nó phải trải qua một quá trình dài để nảy mầm, để lớn lên, để đồng hóa các chất từ đất, từ nước, từ không khí và từ ánh nắng. Con người cũng như thế. Sau khi phát hiện ra mình có thể trở thành cái gì, những gì có tiềm tàng trong bản thân mình, thì con người phải hiểu được con đưòng rèn luyện lâu dài, phức tạp và thậm chí nhọc nhằn nữa, cần thiết để thực hiện tiềm năng đó – và muốn vậy, con người nhất thiết phải trở về với trình độ ý thức thông thường.

Trong những hiệu ứng khác, có thể có một sự căng thẳng thần kinh và tâm lý quá mức, được tạo ra bởi sự đột nhập của các năng luợng và bởi những xung đột nảy sinh ra giữa các nội dung trung bình và thấp, hữu thức và vô thức, và những năng lượng mới ấy.

Nhưng những hiệu ứng quan trọng nhất của sự bành trướng ý thức theo hướng cao hơn là có tính tích cực. Chúng hoặc có tính chất nhất thời, hoặc tương đối lâu bền.

Nói chung, những hiệu ứng nhất thời được gọi là những “trạng thái xuất thần”; những loé sáng mạnh mẽ, sự giao hòa với Hiện thực rộng lớn hơn, sự suy ngẫm về những gì tồn tại ở các thế giới cao siêu, những sự bành trướng theo chiều ngang theo nghĩa vũ trụ của từ ngữ này. Chúng đi đôi với niềm vui, với cảm giác sức mạnh, yêu thương, dung nạp, thông cảm tăng lên. Chúng gây ra những nhiệt tình hiến dâng mình cho Hiện thực, Thực thể tối cao đã được tiếp xúc. Về mặt ý chí, có một sự hoà trộn, một sự thống nhất của ý chí cá nhân với ý chí siêu cá nhân.

Nhưng đó là những thể nghiệm nhất thời, rất thường khi được nối tiếp không những bằng một sự xuống lại tới trình độ ý thức thông thường, mà còn bằng những trạng thái tâm hồn tiêu cực. Những trạng thái này rất nặng nề và gây ra một nỗi nhớ tiếc mạnh mẽ về những trạng thái trước đó, thật vui và thật đẹp. Điều đó dẫn tới chỗ tìm kiếm sự lặp lại những thể nghiệm đó, mà Maslow gọi một cách thích hợp là những “thể nghiệm về các đỉnh cao”. Nhưng những thể nghiệm này giống như bay cao bằng máy bay trên những đỉnh núi ; máy bay rồi phải hạ cánh xuống đồng bằng. Tuy nhiên, những chuyến bay lặp đi lặp lại ấy, sự mở rộng dần dần của ý thức được thức tỉnh, sẽ dần dần đưa trình độ chung của cá nhân lên cao hơn. Cá nhân sẽ lưu lại trên những đỉnh cao ấy trong những thời kỳ ngày càng lâu dài. Một người Ấn Độ hiện đại, Bác sĩ Astani, người từng trải qua những thể nghiệm ấy, gọi chúng là những “cao nguyên”, cách gọi này lấy lại và phát triển hình ảnh của Maslow.

Sau đó, sẽ có những hiệu ứng mà chúng ta có thể gọi là chủ động hay hướng ngoại, những hiệu ứng có thể gọi tắt bằng từ “tính sáng tạo”. Nó có thể là tính sáng tạo nghệ thuật, thơ ca, văn học hoặc khoa học và triết học, tuỳ theo những phương tiện thể hiện của con người.

Bây giờ hãy xem những nhiệm vụ của Tổng hợp tâm lý, nghĩa là những gì cá nhân, cái tôi hữu thức, có thể và phải làm sau khi mở rộng hay bành trướng ý thức. Có thể tóm tắt những nhiệm vụ ấy bằng cách chỉ ra những cái gì phải làm:

  1. Hiểu và lý giải đúng, theo đúng giá trị của chúng, những gì đã xảy tới, tránh những hứng khởi, những “lạm phát” của cái tôi. Để làm như vậy, phải có sự giúp sức lớn của sự hiểu biết những thể nghiệm của người khác, bằng cách nghiên cứu cuộc sống và những trước tác của đội quân “những nhân chứng” đã trải qua sự mở rộng ý thức.
  2. Đồng hoá, nghĩa là hợp nhất vào nhân cách hữu thức những nội dung mới vừa làm cho nó phong phú thêm, lại vừa làm cho nó phức tạp hơn. Sự đồng hoá này phải đưa tới một cân bằng giữa tất cả các yếu tố thuộc mọi bản chất và thuộc mọi trình độ: đó là sự tổng hợp tâm lý cá nhân.

         Để đi tới một sự hợp nhất như vậy, tới một sự tổng hợp như vậy, cũng như để sử dụng đúng những năng lượng đã tràn tới – mà tôi sẽ nói vắn tắt dưới đây – cần phải:

–        Phân giải những tổ hợp, những hình thái trước đó.

–        Chuyển đổi, biến đổi các năng lượng thấp: tái sinh toàn bộ nhân cách.

  1. Nói chung, phải đi vào một quá trình có thể gọi là “chết và phục sinh”, đó là một nhiệm vụ riêng biệt của một trong những con đường nói trên, con đưòng “Đạo đức – Tái sinh”.

Sau tất cả những điều đó, và trên thực tế là trong toàn bộ quá trình đồng hoá và tái sinh, cần phải sử dụng những năng lượng và những năng lực mới, đạt được bằng cách mở rộng và nâng cao ý thức.

Có hai cách sử dụng, tác động nội tâm và tác động bên ngoài.

Tác động nội tâm chủ yếu là toả chiếu. Từ nhân cách phát ra, toả ra các năng lượng; giống như một vòi ánh sáng phun ra những tia sáng lan toả ra xung quanh. Sự toả chiếu này xảy ra một cách tự phát, có thể nói là không thể tránh được. Nói giải thích tại sao chỉ riêng sự có mặt của những người đã trải qua những thể nghiệm siêu cá nhân lại có tác động đối với những người họ tiếp xúc. Tác động này đã nhiều lần được ghi nhận và mô tả, và có thể gọi là “xúc tác tâm lý – tâm linh” (catalyse psycho-spirituelle).

Nhưng sự toả chiếu ấy cũng có thể là tự nguyện. Tác động của việc truyền các năng lượng, các sóng tốt lành có thể được suy tính. Người ta có thể nói tới một hình thức giao cảm từ xa (thần giao cách cảm), không chỉ nhằm truyền đi những nội dung riêng biệt mà còn tác dộng tới người khác bằng một ý muốn tốt lành và ban phúc chung. Từ ban phúc lành đã và vẫn còn được dùng trong lĩnh vực tôn giáo, nhưng cũng có thể dùng nó rộng rãi hơn, dù là với những tín niệm triết học hay tôn giáo. Những nghiên cứu mới đây về sự giao cảm từ xa và chuyển động từ xa (telekinesie) đã đem lại một cơ sở khoa học cho kiểu tác động này.

Một kiểu tác động khác là tác động bên ngoài. Những ai đã trải qua một sự nâng lên của ý thức theo hướng cao hơn đều cảm thấy một cách tự nhiên, có thể nói là không thể tránh khỏi, là họ phải làm sao cho những người khác chia sẻ sự phong phú nội tâm của chính mình. Đó là một hoạt động có thể gọi là “phục vụ”. Nó có thể được thực hiện theo nhiều cách khác nhau, tuỳ theo những thái độ và thích thú cá nhân. Cách trực tiếp nhất là giúp những người khác đạt tới sự nâng cao và mở rộng của ý thức và nó có thể được thực hành với riêng từng người hay với các nhóm.

Một hình thức tác động bên ngoài khác có tính chất xã hội. Nó được hướng tới làm thay đổi những điều kiện và những cấu trúc hiện có, trong đó có những cái không thích hợp và bó buộc, và nhất là tới sự sáng tạo những hình thức mới của đời sống xã hội, của giáo dục, nghệ thuật và văn hoá. Nó tìm cách đánh dấu từng chặng đường đi tới một nền văn minh mới, tốt hơn, trên qui mô toàn cầu.

Trích từ sách “Sự phát triển siêu cá nhân” – Roberto Assagioli

[1] Nhà văn Pháp Jean Wahl, trong nghiên cứu của ông về chủ nghĩa hiện sinh, đã dùng một trò chơi chữ rất hay để nói tới hai kiểu siêu việt: trans-ascendance (siêu lên) và trans-descendance (siêu xuống).

Nghiên cứu tôn giáo
Ta có thể ẩn mình trong vỏ hạt dẻ những vẫn là Thượng Đế của vũ trụ vô biên.
Share:
Nghiên cứu tôn giáo

Leave a reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *