Khái niệm Tôn giáo - Tâm linh

CÁI SIÊU THỨC VÀ SỰ SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT

Chúng ta đã thấy rằng có những biểu hiện khác nhau của cái siêu thức mang một giá trị cao hơn những biểu hiện của ý thức bình thường, mà ý thức này không thể tạo ra những biểu hiện ấy dù có muốn đi nữa. Những biểu hiện ấy đến từ một trình độ tâm lý cao hơn ý thức thông thường, và vì thế, trình độ này được gọi là siêu thúc.

Ở các nhạc sĩ, chúng ta thấy có những trường hợp chín sớm đáng kinh ngạc: Mendelsohn bắt đầu soạn nhạc từ 5 tuổi, Haydn từ 4 tuổi và Mozart thì soạn nhạc thành thạo từ 3 tuổi, ở tuổi này, nhân cách hữu thức chưa hình thành, do đó nó không thể tạo ra các tác phẩm. Ở người lớn, tính độc lập của năng lực sáng tạo được chứng minh bằng một thực tế là, nói chung, năng lực này được thể hiện một cách tự phát, bất ngờ, thôi thúc. Đó là sự ngẫu hứng, nó có thể được định nghĩa như sự chuyển những yếu tố tâm lý của cái siêu thức vào ý thức.

Goerges Sand đưa ra bằng chứng sau đây:

Ở Chopin, sáng tạo là tự phát, như có phép lạ; ông tìm thấy nó mà không cần đi tìm nó, cũng không cần tiên đoán nó; nó đến thật hoàn hảo, thật bất ngờ và thật cao cả.

Nhà tự nhiên học vĩ đại Buffon mô tả kinh nghiệm của mình như thế này:

Bạn cảm thấy như có một chấn động điện nhỏ đánh vào đầu và dạ dày bạn, đồng thời chạm tới tim bạn. Đó là thời điểm của thiên tài.

Theo Musset, “người ta không làm gì cả, mà chỉ lắng nghe; giống như một ngưòi bí ẩn nào đó nói vào tai bạn”. Còn Lamartine thì khẳng định: “Đó không phải là tôi nghĩ, đó là những ý tưởng đang nghĩ trong tôi”.

Hiện tượng này cũng có những tính chất giống như thế trong lĩnh vực khoa học và kỹ thuật. Chính là khi đang đi dạo với người vợ, William Hamilton đã thấy hiện lên khái niệm phức hợp về các quatenion. Một người phát minh, từ lâu đã tìm kiếm một cách vô vọng cách xây dựng một lăng kính đặc biệt, liền thấy được mình phải làm điều đó như thế nào khi đang đọc một cuốn tiểu thuyết. Nhà hoá học Kekule kể lại rằng ông đã nhìn thấy những nguyên tử nhảy múa trong không trung, và ông đã có thể nêu ra lý thuyết của mình về các nhóm nguyên tử khi đang ngồi ở tầng trên xe buýt của Luân Đôn.

Tuy không phải là những nghệ sĩ lớn hay những nhà khoa học, nhiều người trong chúng ta đã thấy ràng, khi đang viết, bỗng nảy ra những ý tưởng mới làm cho công việc mình đổi sang một hướng hoàn toàn bất ngờ. Nhưng còn hơn thế nữa: đôi khi ngẫu hứng đến trong giấc ngủ và đánh thức người đang ngủ dậy.

Bây giờ hãy tìm cách hiểu xem năng lực ấy hoạt động như thế nào và nó có những quan hệ gì với cái tôi hữu thức cũng như với phần còn lại của tâm lý. Trước hết, không được lẫn lộn ngẫu hứng với sáng tạo. Một sự loại suy sẽ giúp chúng ta phân biệt những giai đoạn khác nhau của sự sáng tạo nghệ thuật và trí tuệ và đi sâu vào cơ chế, hay nói đúng hơn, vào quá trình sâu kín của sự sáng tạo.

Đúng là có một sự song hành mật thiết giữa sự sáng tạo tinh thần và sự sinh đẻ sinh học. Trong cả hai trưòng hợp, đầu tiên là sự hoài thai, sự thụ thai. Trong sự sáng tạo tinh thần, yếu tố làm “thụ thai” đôi khi được tạo nên từ một kích thích bên ngoài, nó đột nhiên đập vào và gây ra những xúc cảm sâu sắc, những cảm giác mạnh mẽ và làm cho cái siêu thức hoạt động.

Một ví dụ được biết rõ – ví dụ này càng đáng chú ý hơn, vì đó là của một nhà văn thường viết chậm chạp, tỉ mỉ, đến mức cẩn thận cao nhất – là “Cinque Maggio” (ngày 5 tháng Năm) của Alessandro Manzoni.

Việc loan tin bất ngờ về cái chết của Napoléon đã làm ông xúc động sâu sắc và gợi hứng cho ông viết liền một mạch bài tụng ca này. Nhà thơ mô tả rõ điểm khởi đầu của nó, tức là niềm xúc động sâu sắc đã buộc vị thần của mình (có thể nói đó là siêu thức của ông) phải viết ra.

Ngài, ngồi xuống sáng chói trên ngai vàng,

Nhìn thấy vị thần của tôi và thinh lặng.

Ngài ngã xuống, đứng lên nhiều lần, và nằm đó,

Hàng nghìn giọng nói vang lên,

Không có giọng ngài.

Thoái khỏi sự nịnh hót đê tiện

và sự lăng nhục đáng sợ,

Ngài liền đứng dậy,

Xúc động vì ánh sáng đột ngột biến đi

Thế rồi một khúc ca phát ra trước chiếc bình

đựng di hài,

Khúc ca ấy có lẽ không bao giờ chết.

Đến khi, đó là những kích thích bên ngoài rất khác nhau, kém mạnh mẽ hơn, mà hiệu ứng của chúng đối với cái siêu thức thậm chí không được ý thức của nghệ sĩ cảm thấy. Trái lại, trong nhiều trường hợp khác, những kích thích quyết định không phải từ bên ngoài mà là từ bên trong; nó gồm nhiều xu hướng, nhiều xung lực, nhiều cảm giác, nhiều vấn đề hoạt động trong tâm hồn người nghệ sĩ và, vì không tìm được lối thoát vừa ý hay giải pháp trong cuộc sống, những thứ đó được biểu hiện trong một sự sáng tạo tưởng tượng và truyền động lực của chúng vào nó. Đó là sự biến đổi và sự thăng hoa nghệ thuật của những cảm giác cá nhân. Heine đã diễn đạt điều đó rất hay và rất giản dị: “Từ nỗi đau lớn của mình, tôi lấy ra những khúc ca nhỏ”. Nhiều ví dụ về sự phân tích nguồn ngẫu hứng ấy cũng thấy có trong những tác phẩm tâm lý học nhưng cần phải xem xét những tác phẩm này với một sự dè dặt nào đó vì nhiều nhà tâm lý học có xu hướng cường điệu. Những phân tích phải chăng nhất là ở trong cuốn sách Phân tâm học về Nghệ thuật của Charkes Beaudoin.

Hài kịch thần thánh cũng có thể được coi như biểu hiện đổi dạng của tình yêu mà Dante dành cho Béatice, một mối tình không biết tới sự trọn vẹn trần thế. Đó cũng là trường hợp Tristan và Iseult, mà chính Wagner đã tuyên bố: “Đó là một tượng đài tình yêu không thể đi tới trọn vẹn của tôi”.

Sự kích thích cũng có thể mang bản chất cao hơn, từ một trực giác mạnh mẽ về Hiện thực cao siêu, một luồng sáng nội tâm. Điều đó thường xảy ra đến trong những thời đại tâm linh, khi nghệ thuật mang một tính chất tôn giáo, khi nhà thơ là một nhà tiên tri hay một nhà bói toán. Chẳng hạn, trong Thiên đường, Dante đã diễn đạt những trực giác và những sự lóe sáng thần bí của mình với một nghệ thuật đáng khâm phục.

Trong những trường hợp thuộc loại này, sự kích thích khởi xướng ra hoạt động của cái siêu thức là nằm ở bên trong, và người ta có thể nói đó là “tự thụ thai” (autofécondation), tức là một quan hệ sáng tạo giữa các bộ phận hay các yếu tố khác nhau của cùng một tâm thân.

Nhưng có một khả năng khác, khả năng sự kích thích đến từ những ảnh hưởng tâm lý tác động theo lối giao cảm từ xa đến những tâm hồn nhạy cảm và dễ tiếp nhận. Giả thuyết này có thể có giá trị trong những trường hợp không hiếm thấy của những phát minh hiện đại hay những biểu hiện đồng thời khi không có sự giao tiếp bên ngoài. Có thể coi đó là những biểu hiện của cái vô thức tập thể, nhưng đó là một cách nói không giải thích được gì cả.

Sau đó là đến thời kỳ “thai nghén”, xây dựng bên trong, mà giống như sự thai nghén sinh học, nó có thể diễn ra dễ dàng, không gây ra những rối loạn, nhưng rất thường gây mệt mỏi, khó nhọc, nặng nề. Thời hạn thai nghén rất khác nhau. Có khi rất nhanh, gần như ngay lập tức, nhưng có những trường hợp, trái lại, rất dài. Đôi khi nghệ sĩ có cảm giác khó chịu, lo âu đặc biệt với những lúc để lộ sự thai nghén ra; trong những trường hợp khác, anh ta chịu đựng một cách khó khăn, với một cảm giác khô cằn, uể oải, bất lực. Nghệ sĩ thường lý giải trạng thái đó một cách sai lầm như một sự tê liệt về những năng lực sáng tạo của mình; anh ta tự dằn vặt và tìm cách cưỡng ép ngẫu hứng bằng những chất kích thích khác nhau, như rượu, nhưng những chất đó tỏ ra vô ích và có hại. Khi những sự thai nghén hiện rõ ra những biểu hiện đó có thể đem lại cho nghệ sĩ cơ hội cộng tác thảnh thơi giữa cái hữu thức và cái vô thức của anh ta; một sự cộng tác diễn ra theo những lối khác nhau, tùy theo kiểu tâm lý và cấu trúc nhân cách của anh ta.

Cuối cùng là đến thời điểm sinh đẻ, thời điểm đột nhập vào ý thức; đó là ngẫu hứng đích thực và là sự sản xuất ra tác phẩm. Giai đoạn này, giống hệt như sự sinh đẻ, cũng có thể dễ dàng và tụ phát, nhưng cũng có thể khó khăn và đau đớn, đòi hỏi những sự giúp đỡ nhân tạo; và có khi sản phẩm không thể sống được. Trong một số trường hợp, tác giả cảm thấy hứng khởi, vui mừng (người ta nhớ lại euréke của Archimède) ; trái lại, có những tác giả khác, như Alfred de Musset, lại trải qua một thời gian đau khổ mà họ cố thoát ra bằng những điều thái quá khác nhau.

Sự ra đời của tác phẩm nghệ thuật có thể xảy tới vào những giai đoạn phát triển khác nhau của nó, giống hệt như trong lĩnh vực sinh học, những con vật nhỏ vừa ra đời đã có thể sống độc lập, trong khi đứa trẻ sơ sinh lại cần có những chăm sóc, cần được nuôi dưỡng và phát triển. Cũng vậy, tác phẩm nghệ thuật có thể vừa mới được tạo ra đã hoàn hảo ngay lần đầu rồi, chỉ cần một sự sửa sang hay hoàn thiện nữa là xong, trong khi ngược lại, chỉ mới nảy sinh ra một phác thảo, một cái sườn phải được phát triển với nhiều công phu.

Những tỷ lệ tương ứng và những tương quan giữa sự sáng tạo tự phát và hoạt động có ý thức có thể là khác nhau và thật phức tạp.

Có khi có một sự phân đôi có ý thức, gần như ảo giác. Dickens nhắc lại,trong những bức thư của mình, nhân cách có thể nói là độc lập của những nhân vật của ông. Nếu người ta đối chiếu những chỉ dẫn ấy với những sự kiện đã biết, thì phải thừa nhận đó là những điều đích thực. Ông Camp, sự sáng tạo lớn nhất của nhà văn này, như chính ông khẳng định, đã nói với ông trong một nhà thờ như có một giọng nói bên trong nhắc nhở ông.

Nhà soạn kịch Pháp Francois de Curel, đã phân tích một cách tinh tế phương pháp của ông, hay nói đúng hơn, những kinh nghiệm làm việc của ông. Ông thường bắt đầu xử lý chủ đề theo lối thông thường, có thể là với nhiều khó khăn và lo sợ hơn các tác giả khác, rồi sau đó, ông cảm thấy có một số nhân vật nào đó nảy ra trong ông và nói với ông giống như Ông Camp đã nói với Dickens. Những nhân vật này đúng là không thể nhìn thấy, nhưng lại di chuyển như trên một sân khấu, dù đó là trong một ngôi nhà hay một khu vườn; ông nhìn thấy chúng mờ mờ, như trong một giấc mơ. Những lúc đó, ông không viết nữa, không sáng tác nữa, ông chỉ làm một sự sửa sang đơn giản về văn chương mà thôi: các nhân vật tự chúng nói năng, hành động và ngay cả khi tác giả dừng lại hay ngủ thiếp đi, vở kịch vẫn tiếp tục phát triển một cách tự phát trong đầu ông. Thế nếu ông đãng trí hay nghĩ tới điều gì khác thì sao? Thì những yếu tố đối thoại trong các cảnh mà ông chưa viết tới đó, vẫn cứ đến với đầu óc ông. Điều đó có nghĩa là việc dựng vở kịch theo lối thăng hoa, từ tiềm thức ấy vẫn được tiếp tục, vượt quá cả cái điểm dừng lại của công việc có ý thức của ông. Tác giả này coi như sự phân đôi nhân cách nhỏ ấy như một loại mầm, một cục bướu của nhân cách ban đầu, và sau khi kết thúc vở kịch nó mới dần dần tiêu đi, không phải là không có đấu tranh khó khăn.

Đây là biểu hiện đặc thù của những tiểu nhân cách mà trong mỗi chúng ta đều có.

Luigi Pirandello, chuyên gia phân tích tài giỏi và rất chi tiết về những sự phân giải và những phức hợp tâm lý, đã nói những điều tương tự, và đã đưa lên sân khấu Sáu nhân vật được tác giả đi tìm trong vở hài kịch đầu tiên của mình.

Sự phát sinh của những sáng tạo nghệ thuật và những phát minh mà chúng tôi đã vạch lại, cũng như sự tồn tại của nhiều trình độ tâm lý khác nhau có tính chất nửa độc lập, đã giải thích những sự kiện thú vị và nghịch lý về những mối quan hệ của tác giả với tác phẩm của mình. Đôi khi trạng thái tinh thần hữu thức của tác giả khác một cách rõ rệt với những gì anh ta diễn đạt ra khi sáng tác; thậm chí anh ta ở trong trạng thái hoàn toàn ngược lại.

Rossini đã soạn một số phần vui vẻ nhất trong Chàng thợ cạo ở Séville như vậy, khi ông đang ở trong trạng thái bực bội. Ông rất biếng nhác và không bao giờ nộp những vở kịch của mình đúng kỳ hạn mong muốn. Đối với Chàng thợ cạo ở Séville, ngày trình diễn đã được báo trước, ngày đó đã gần đến mà trên thực tế ông chưa viết được gì cả. Lúc đó, nhà sản xuất sân khấu, vì biết ông lười biếng nhưng lại tham ăn, nên đã nhốt ông lại trong buồng và ra lệnh chỉ mang các bữa ăn tới cho ông khi ông đã soạn xong một số trang. Thế là Rossini, tuy rất bực mình, đã phải viết trên giường (ông có thói quen viết ở đó), ném từng trang một qua cửa sổ của chiếc sân nhỏ, ở đó những người chép lại đã đứng chực sẵn để đón lấy.

Tác giả cũng thường tỏ ra thờ ơ một cách kỳ lạ, thậm chí gần như dứt hẳn với những gì mình tạo ra. Khi đọc lại sau đó một thời gian, anh ta đôi khi cảm thấy một cái gì mới mẻ và đáng ngạc nhiên về những gì tuồn ra từ ngòi bút của mình. Hơn thế nữa: anh ta có thể không hiểu thật đúng những tác phẩm của chính mình, không nhận ra những ý nghĩa sâu sắc của chúng, trong khi một người khác, một nhà phê bình lịch lãm chẳng hạn, lại có thể nhìn thấy và giải thích những điều đó. Trong nhiều năm liền, tôi đã trải qua một kinh nghiệm thuộc loại này. Một thầy thuốc giàu linh cảm và phát triển về mặt tâm linh, trước mặt tác giả, đã đọc công khai một số bài thơ mới nhất của tác giả và đã bình giải một cách tinh tế, đánh giá cao những tượng trưng và những ý nghĩa sâu sắc trong đó. Cuối buổi họp ấy, nhà thơ tuyên bố: “Tôi chẳng bao giờ hình dung rằng anh sẽ tìm ra tất cả những ý nghĩa ấy trong các bài thơ của tôi, nhưng bây giờ, tôi phải chấp nhận chúng!” Cần nói thêm rằng nhà thơ ấy đã sống một cuộc sống tầm thường. Nói đúng hơn, đó là một kẻ ăn chơi chẳng có một khát vọng tâm linh nào.

Tôi sẽ minh hoạ tất cả những điều đó bằng một vài ví dụ mới, rất khác nhau, có thể giúp hiểu rõ đến mức có thể về quá trình ngẫu hứng và sáng tạo đáng kinh ngạc. Hãy bắt đầu bằng một bằng chứng rõ ràng và có thể nói là ngây thơ mà nhà văn lớn Hermann Keyserling đưa ra trong cuốn sách của ông Những mối quan hệ của tôi với cái siêu nhạy cảm.

Mặc dầu lúc đầu tôi không hề có thiên hướng viết, tôi vẫn trở trành nhà văn, chỉ vì để kiếm sống. Cân nhắc những sự am hiểu và không am hiểu của tôi, tôi không nhìn thấy có một con đưòng nào dành cho tôi ngoài con đường diễn đạt bằng viết. Khi tôi viết, tôi không cảm thấy mình khác với một người lên đồng đang viết. Tôi không biết trước mình sắp nói gì, chỉ cảm thấy như bị thúc đẩy phải nói những điều hợp với một chủ đề nhất định vào lúc đó. Tôi viết lần đầu rất nhanh mà mỗi lần như thế, tôi lại kinh ngạc với mình, một nỗi kinh ngạc thật vui sướng khi nhận ra những gì lúc đầu tôi chỉ mới cảm thấy lờ mờ.

Ỏ Darmstadt, khi tôi phải tham gia một hoạt động bên ngoài (thành lập và lãnh đạo “Trường Đạo lý”) mà tôi chưa bao giờ nghĩ tới và cũng không thích hợp với tôi, tôi thật kinh ngạc vì tác phẩm của tôi được thực hiện một cách trùng hợp giữa đầu đề một cuộc nói chuyện và kỳ hạn đã định. Lúc đó tôi không cần nghĩ tới những gì tôi sắp viết. Khi kỳ hạn đến, những gì tôi dự cảm dường như tự chúng được viết ra.

Ví dụ thứ hai là của một nhà điêu khắc, Frnesto Masuelli. Trong chiến tranh, ông bị mù trong một trận đánh vào tuổi mười chín. Chưa bao giờ ông làm một thứ nghệ thuật nào và ông cũng chưa bắt tay vào làm nghệ thuật ngay sau khi bị mù. Nhưng sau một thời gian, như thể tình cờ và như một trò chơi, ông bắt tay vào nặn thạch cao. Kết quả thật thú vị đến nỗi ông bắt đầu nặn tượng. Ông đã phát triển một tài năng như vậy, với những tính chất của sự tự phát hoàn toàn, đó là điều hoàn toàn đáng kinh ngạc với tật mù của ông. Khi tôi hỏi ông về cách sáng tác của ông, Masuelli trả lời nguyên văn như thế này:

Tôi không theo dõi bàn tay mình khi nó làm việc, tôi chỉ cảm thấy những gì tôi đang làm. Lúc đó, tôi là chủ đề được tôi hình dung ra và tôi cứ để cho hai bàn tay tôi tự làm việc lấy. Tôi nặn bức tượng Fante (một trong những tác phẩm đẹp nhất của ông) trong bốn mươi lăm phút, như trong một giấc mơ, gần như vô thức. Tôi làm việc trong sự thanh thản và niềm vui.

Sự quy chiếu vào quá trình tự đồng nhất, nhân cách hoá ở đây thật thú vị.

Ví dụ thú ba còn có ý nghĩa hơn về nhiều mặt khác nhau. Đó là về nữ thi sĩ và nữ họa sĩ Maria Gallotti. Tôi muốn nói kỹ hơn trường hợp này vì tôi đã trực tiếp thu thập được những thông tin về cuộc đời của bà. Ở đây, tôi lấy lại một phần diễn văn khai mạc của tôi tại cuộc triển lãm ký họa được tổ chức vào tháng Tư 1935 ở Câu lạc bộ Báo chí Rome.

Từ lúc còn rất trẻ, Maria Gallotti đã rất khác với những đứa trẻ khác, sau đó cũng rất khác với những cô gái khác. Bà có xu hướng xa lánh môi trường bên ngoài của mình và muốn sống trong một thế giới hoàn toàn của riêng mình, đầy những ước mơ đẹp đẽ, một thế giới từ thiện và hoàn thiện. Sự hướng nội mạnh mẽ và sự phân giải tâm lý do nó gây ra ấy càng trở nên nặng nề hơn vì một ảnh hưởng có hại và nặng nề như bà đã mô tả:

Tôi trải qua tuổi thơ và tuổi trẻ của mình trong một cơn ác mộng mà tôi không bao giờ có thể thoát ra được. Thật bất hạnh cho tôi – một nỗi bất hạnh, tiếc thay, đã giáng vào nhiều người trẻ tuổi và là một nỗi bất hạnh rất tai hại – là tôi có một giáo sư mà, xin Thượng đế tha thứ cho ông, đáng lẽ kích thích sự ham thích học tập của tôi để ngày càng hiểu biết nhiều hơn, thì ông lại làm cho tôi tin chắc – ngày nào ông cũng nhấn mạnh như vậy – rằng tôi kém năng lực, không thể mong muốn và càng không thể thực hiện được một điều gì tốt lành, và chắc chắn tôi bị thất bại trong học tập. Việc gợi ý hằng ngày như vậy có lẽ cũng phù hợp với một sự yếu đuối về ý chí trong tôi, vì tôi không những không thể phản ứng lại và nổi loạn, mà còn làm cho tôi rốt cuộc tự coi mình như kẻ khốn khổ, không thể đoán thấy những gì mà người khác hiểu được và cũng không thể vạch ra một con đường riêng của mình trong cuộc sống.

Sự gợi ý tai hại ấy đã buộc cái phần tốt nhất và thật nhất của Maria Gallotti ở trong tình trạng như bị tê liệt đi nhiều năm liền, và đó là nhũng năm mà bà trải qua như ở trong một trạng thái mộng du. Sau đó, bà đã thức tỉnh được, nhưng với một nhân cách bị suy yếu, kém lành mạnh, kém sống động về nội tâm. Những gợi ý làm suy sút tinh thần và gây tâm lý thất bại của những người khác trên thực tế có thể phá hủy một cách tàn bạo những mầm mống quí báu của đời sống tâm linh, tạo ra những mất cân bằng, thậm chí những bệnh có thật về thần kinh và tinh thần. Đó là những sự cắt xẻo tinh thần còn nghiêm trọng hơn những sự cắt xẻo chỉ làm thân thể tổn thương. Những kẻ làm như vậy phải gánh một trách nhiệm nặng nề. Điều duy nhất có thể tha thứ cho họ là họ không biết tới điều xấu xa do họ gây ra, nhưng bây giờ, đã đến lúc phải chấm dứt nhũng tội ác tâm lý ấy và mỗi người phải biết rằng sự phê bình, sự coi thường, thái độ bi quan và những dự đoán về thất bại là những thứ thuốc độc thật sự. Và trái lại, sự thông cảm yêu thương, sự coi trọng, sự khuyến khích, thái độ lạc quan lành mạnh đem lại sức sống mạnh hơn, kích thích những năng lượng đang ngủ quên và có thể tạo ra những sự nở hoa kết quả bên trong đáng kinh ngạc và những tác phẩm quí giá. Thường khi các bà mẹ không hiểu như vậy, họ yêu thương và nói rằng họ yêu thương con cái mình theo kiểu của họ, nhưng thật ra là hủy hoại chúng với những hình ảnh tiêu cực và những lời phê bình thường xuyên theo kiểu đó.

Maria Gallotti đã sống một cách xứng đáng trong nhiều năm với cuộc đời làm vợ và làm mẹ của mình, nhưng bao giờ bà cũng bị đau khổ một cách thầm kín và không thể dập tắt được, bao giờ bà cũng mang khát vọng buồn tiếc một cuộc sống tâm linh mà bà cho rằng nó ở ngoài tầm với của mình. Bà bị những năng lượng bên trong đè nén, những năng lượng này không thể được giải thoát vào một thể hiện sáng tạo. Nhưng một đêm, một cái gì đáng kinh ngạc và bất ngờ đến với bà. Bà cảm thấy có một kích thích bên trong mạnh mẽ để viết ra những bài thơ đến với ý thức của bà một cách tự phát. Tuy ngạc nhiên và do dự, bà vẫn tuân theo xung lực của mình và thế là những câu thơ cứ tuôn ra dưới ngòi bút của bà, nhanh chóng, dễ dàng và không cần tới một nỗ lực nào cả. Từ ngày đó, ngẫu hứng thơ ca ấy tiếp tục phun trào mạnh mẽ và tươi mát như một con suối trên núi. Đó là một thứ thơ hài hòa, không một chút hoa mỹ, không “làm văn chương” vô ích, thể hiện một cách giản dị những tình cảm, những phản ứng và khát vọng của một tâm hồn tinh tế, nhạy cảm nhưng cũng nhiệt thành, mãnh liệt.

Vài tháng sau, một sự kiện khác xảy đến, còn đáng kinh ngạc hơn sự kiện trước đó: Maria bắt đầu vẽ một cách tự phát, tuy chưa bao giờ làm việc đó và cũng chưa bao giờ đi học một lớp vẽ nào. Đó không phải là việc học vẽ dần dần, cũng không phải là sự phát triển đều đặn của một tài năng nghệ thuật. Bà bắt đầu vẽ ngay lập tức một hình ảnh vào loại khó nhất về mặt kỹ thuật biểu hiện: một khuôn mặt, của Christ. Xung lực thúc đẩy bà với một sự táo bạo vô thức, khiến cho bà dám có một khát vọng nồng nhiệt là có một hình ảnh của Chúa, phù hợp với cái nhìn nội tâm của bà, một hình ảnh mà bà có thể cầu nguyện trước nó. Đó là một thành công.

Sau đó bà vẽ nhiều ký họa, hoàn toàn tự phát, với một sự dễ dàng đáng kinh ngạc, một sự thực hiện nhanh chóng đáng kinh ngạc. Một loạt bức vẽ biểu hiện Christ trên thánh giá, nói những lời cuối cùng của ngài, thật đáng chú ý đặc biệt và có một giá trị lớn.

Ngoài những đề tài bà ưa thích nhất ra, Maria Gallotti đã vẽ nhiều đề tài khác, trong đó có Thánh Francois, nữ thánh Catherine và nữ thánh Claire. Bà còn vẽ một loạt nhũng bức tranh lý giải tinh tế, hay nói đúng hơn, “soạn lại” âm nhạc của những nhà soạn nhạc lớn : Bach, Beethoven, Haydn, Schubert; những bức tranh khác thì biểu hiện theo lối tượng trưng các trạng thái tâm hồn: ân hận, chua xót, suy ngẫm, hạnh phúc, thanh thản. Bà cũng vẽ nhiều chân dung.

Tất cả những gì tôi đã nói về quá khứ ngẫu hứng và sáng tạo đều được thấy rõ trong trường hợp Maria Gallotti: những kích thích bên ngoài, nhưng chủ yếu là những kích thích nội tâm và tâm linh, được tạo ra trong một cái siêu thức rất nhạy cảm và mạnh mẽ ; một sự nảy sinh tự phát của tác phẩm nghệ thuật đã được bố cục trong mọi chi tiết; một sự tham gia nhỏ nhoi thậm chí không có của nhân cách hữu thức, tất cả được chuẩn bị và tạo nên ở trong một vùng cao hơn và đến từ đó.

Còn lại vấn đề tài năng kỹ thuật đặc biệt của bà. Ở đây tôi chi xin nêu giả thuyết rằng, hình ảnh, cái nhìn nội tâm ở bức vẽ, là khá sinh động và chính xác trong mọi chi tiết để có thể tạo ra ở bà sự phối hợp thần kinh – cơ bắp cần thiết khiến bà có thể vẽ những đường nét bằng bút chì lên giấy và biến hình ảnh nội tâm thành tác phẩm khách quan.

Súc mạnh khẩn bức của cái siêu thức ở Maria Gallotti đã được biểu hiện dưới những hình thức khác nữa: nhiều lần bà có những trực giác báo hiệu chính xác về các sự kiện sẽ xảy tới sau đó. Bà có những xung lực mạnh mẽ để hành động theo những lối khác nhau, mà sau đó tỏ ra là đúng. Cuối cùng, bà cảm thấy mình như được hướng dẫn và giúp đỡ bởi một Sức mạnh tâm linh cao siêu.

Ở đây, chúng ta đứng ở ngưỡng cửa một sự bí ẩn mà tôi chưa thể nói ngay. Tôi xin kết thúc bằng cách dẫn ra một lời được Shekespeare đặt vào miệng một nhân vật của ông : “Còn nhiều điều nữa ở giữa trời và đất mà tinh thần con người nói chung không chấp nhận”.

 

Trích từ sách “Sự phát triển siêu cá nhân” – Roberto Assagioli

Nghiên cứu tôn giáo
Ta có thể ẩn mình trong vỏ hạt dẻ những vẫn là Thượng Đế của vũ trụ vô biên.
Share:
Nghiên cứu tôn giáo

Leave a reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *