Nếu người ta quan sát những “dấu hiệu của thời đại”, tức là trạng thái hiện nay của loài người, các trọng tâm chú ý và những ứng xử của nó, thì dễ dàng nhận thấy một sự phân cực ngày càng tăng thành hai xu hướng đối lập nhau. Người ta có thể nhận thấy, một bên, là ham muốn cuồng nhiệt và tìm kiếm đứt hơi để có những sự chiếm hữu vật chất, những khoái lạc nhục cảm, sự thống trị đối với tự nhiên và những người khác, với tất cả những hậu quả từ đó sinh ra : tình trạng phóng đãng và tự khẳng định trong tất cả các lĩnh vực, tính gây hấn và bạo lực cá nhân cũng như tập thể. Một bên khác, tương đối rõ ràng, là một sự bất mãn đối với tất cả những điều đó và thậm chí một sự nổi loạn công khai, nhất là ở lớp trẻ, cũng như một sự tìm kiếm – có ý thức hay không – những giá trị và những sự thỏa mãn khác nhau, cao hơn, một ước muốn có những gì nói chung được gọi là tâm linh hay tôn giáo.

Nhưng trong lĩnh vực này, cũng có vô số những bấp bênh, những lẫn lộn, những hiểu sai. Đó là một nghịch lý kỳ lạ : trong khi có rất nhiều những bằng chứng của nhiều người, nam và nữ, ở mọi thời gian và mọi địa điểm đã từng trải qua thể nghiệm trong lĩnh vực cao siêu này, thì lại rất hiếm thấy những nghiên cứu khoa học và những tìm tòi thực nghiệm về vấn đề ấy. Có nhiều lý do khác nhau. Trước hết, đang có một quan niệm sai lầm về phương pháp khoa học, giới hạn vào việc sử dụng những kỹ thuật số lượng và tính, thích hợp với các khoa học tự nhiên. Lý do thứ hai là tinh thần con người (hiện nay) khó chấp nhận sự tồn tại của những giá trị và những hiện thực phi lý tính. Có một sự lẫn lộn giữa cái siêu lý tính (supra-rationnel) và cái phi lý tính (irrationnel) hay phản lý tính (anti-rationnel). Lý do thứ ba là ở chỗ : những thể nghiệm ấy được mô tả với một lối diễn đạt nói chung có liên quan với những học thuyết tôn giáo, với những hình ảnh, những tượng trưng và những hình thức không còn được nhiều người chấp nhận hay thừa nhận là có giá trị nữa. Như Keyserling nói thẳng tuột ra, “những thể nghiệm ấy đã được biểu hiện trong khuôn khổ những định kiến của chúng”.

Một khó khăn khác nằm ở chỗ không có ngôn ngữ và cách nói thích hợp để truyền đạt bản chất thật của những thể nghiệm siêu cá nhân. Tất cả những ai muốn diễn đạt chúng đều nói rằng, trên thực tế, chúng không thể nói ra được[1]

Cuối cùng, là nỗi sợ phải mạo hiểm vào một thế giới khác với thế giới quen thuộc của chúng ta, một thế giới chưa được biết tới và làm người ta bối rối. Nỗi sợ ấy càng tăng lên do sự chinh phục thế giới kia thường được trình bày dưới một hình thức về căn bản có tính tiêu cực của sự từ bỏ tất cả những gì mà nói chung con người từng gắn bó, nhưng lại không làm rõ một cách đầy đủ những mặt tích cực và vui vẻ của nó.

Tất cả những điều đó đẻ ra những chống cự và những kìm hãm và nhiều khi cả cái được gọi là “sự từ chối cái cao cả” nữa. Bất chấp tất cả những điều đó, tâm trạng không thỏa mãn nói trên, sự tìm kiếm “một cái gì khác” và sự quyến rũ của việc thăm dò và chinh phục những thế giới bên trong mà nhiều người dự cảm, đã tạo ra những tia sáng, thậm chí những luồng ánh sáng, đến mức người tự coi mình như những sứ giả và những kẻ dẫn đường trong lĩnh vực này đang thu hút nhiều người và tập hợp xung quanh họ nhiều người tham gia và nhiều môn đồ nhiệt thành, thường là cuồng tín nữa.

Nhưng sự am tường của những người hướng dẫn, những “vị thày” ấy, cũng như giá trị những thông điệp của họ là rất khác nhau. Bên cạnh những thuyết giảng cao siêu và chân chính, có nhiều cái đáng ngờ, xen lẫn sự thật và ảo ảnh ở những mức độ khác nhau. Bên cạnh một vài người hướng dẫn thật sự là hiền triết, lại có nhiều “bậc tiên tri giả” sử dụng và thuyết giảng những phương pháp không có giá trị và thậm chí còn nguy hiểm nữa ! Như vậy, cần phải cấp bách nghiên cứu và thực nghiệm khoa học trong lĩnh vực này, độc lập với mọi học thuyết, mọi hệ thống, mọi uy quyền cá nhân.

Một sự nghiên cứu như vậy đã được khởi đầu và đang phát triển nhanh chóng, tự lập thành một nhánh mới của tâm lý học, gọi là tâm lý học siêu cá nhân, và cũng có thể gọi là “tâm lý học về những tầm cao”. Nhưng chúng ta chỉ mới ở trong sự khởi đầu nghiên cứu ấy.

Còn tôi thì đã nghiên cứu nó từ nhiều thập kỳ và dự định sẽ làm điều đó một cách có phối hợp và có hệ thống hơn (theo đúng nghĩa của những từ này).

Một trong những đề tài của tâm lý học về các tầm cao này là mối quan hệ giữa các hoạt động siêu thúc, siêu cá nhân và đời sống hữu thức hoặc, nói chính xác hơn, những mô thức và những giai đoạn chuyển những nội dung và năng lượng siêu thức vào trường ý thức bình thường được thức tỉnh. Những mô thức ấy là khác nhau và có thể liệt kê như sau : 1. Trực giác. 2. Tưởng tượng. 3. Lóe sáng. 4. Phát hiện. 5. Ngẫu hứng. 6. Sáng tạo. 7. Hiểu và lý giải.

Những mô thức này phát triển không tách rời nhau, nhưng thường ít nhiều đồng thời và thống nhất với nhau ở những mức độ khác nhau. Chính vì thế thường có những lẫn lộn giữa các mô thức ấy. Nhưng sự nghiên cứu chúng về mặt khoa học đòi hỏi phải làm rõ những sự phân biệt và khác biệt của chúng. Chỉ sau đó người ta mới có thể nhận ra và hiểu được đúng những quan hệ và những tương tác của chúng.

Bản thân công việc này cũng có những giai đoạn khác nhau cần được phân biệt. Cần thu thập và nghiên cứu :

  • Trước tiên là những thế nghiệm tự phát, những sự kiện được quan sát, như đã được mô tả và kể lại bởi nhiều người thuộc tất cả các thời đại và ở bốn phương của thế giới. Đó là phương pháp hiện tượng học.
  • Các mô thức của những quá trình chuyển cái siêu thức vào cái ý thức.
  • Các kỹ thuật đã và đang được sử dụng để tạo ra hay làm thuận lợi cho sự chuyển ấy ; điều này bao hàm những thủ tục khác nhau, bên ngoài và nội tâm, của các tôn giáo khác nhau, cũng như những bài tập khác nhau với những tên gọi khác nhau, nhưng chúng ta có thể chỉ chúng dưới cái tên xếp loại là Yoga.
  • Những kết quả trực tiếp và những hiệu ứng kế tiếp sau đó.
  • Những phương pháp ngăn ngừa những nguy hiểm và cứu chữa những tổn thất có thể gây ra bởi sự “đi xuống”, sự đột nhập của những năng lượng siêu cá nhân.
  • Những cách sử dụng tốt nhất và có ích nhất đối với những sự lóe sáng (đại giác) và những năng lượng ấy
  • 1. Trực giác (intuition)

Ở đây, cần phải phân biệt giữa trực giác như là chức năng của tinh thần với những kết quả hoạt động của nó, tức là những trực giác có các đặc trưng khác nhau. Định nghĩa được chấp nhận chung của từ này, về mặt từ nguyên, bắt nguồn từ nghĩa của động từ latin ìn-tueri : “nhìn thấy trực tiếp”. Đó là sự nhìn thấy, sự cảm nhận trực tiếp một đối tượng hiện hữu trong tính hiện thực riêng biệt của nó. Trực giác, với tư cách chức năng nhận thức độc lập, nói chung được thừa nhận. Nó đã được thừa nhận trong quá khứ, ở phương Đông cũng như ở phương Tây.

Tuy nhiên, tâm lý học tự coi là khoa học lại không thừa nhận trực giác như một phương tiện nhận thức có giá trị, do quan niệm riêng có tính hạn chế và phiến diện của nó về trường và về các phương pháp của khoa học, hoặc đồng nhất trực giác với tri giác cảm tính trực tiếp về những kích thích bên ngoài. Nhưng quan niệm loại trừ trực giác một cách không đúng ấy đã bị phản ứng lại. Hai tác giả quan trọng đã khẳng định giá trị và hiệu lực của trực giác là Bergson và Keyserlimr. Họ được coi và được xếp loại như những nhà triết học, nhưng cả hai đều có một sự cảm nhận sắc bén về tâm lý học, dựa đúng vào trực giác và, riêng đối vói Keyserling, còn dựa vào một khả năng lớn về đồng cảm (empathie) và đồng nhất. Cả hai đều có cống hiến quí báu vào sự nhận thức tâm hồn con người, mà tâm lý học khoa học mới phải biết ơn họ.

Trong trường tâm lý học chặt chẽ hơn, Jung đã có công lao khẳng định lại sự tồn tại và hiệu lực của trực giác như là chức năng tâm lý riêng biệt và độc lập. Đây là lời của ông : [2]

Theo quan điểm của tôi, trực giác là một chức năng tâm lý căn bản ; nó không phải là cảm giác, không phải là tình cảm, cũng không phải chỉ là một sự diễn dịch trí tuệ… Bằng trực giác, mỗi nội dung riêng biệt hiện ra như một tổng thể tự thân (tout complet en soi), mà chúng ta không thể nào cắt nghĩa hay phát hiện được nó xuất hiện bằng cách nào… Nhận thức trực giác, như vậy, có một tính chất nội tại của sự tin chắc, điều đó đã đưa Spinoza tới chỗ chủ trương rằng “khoa học trực giác là hình thức cao nhất của nhận thức”.

Jung coi trực giác là “cái phi lý tính”, nhưng điều đó dễ gây ra những sự hiểu sai, vì có thể làm cho người ta hiểu rằng nó đi ngược lại với lý trí, nhưng trên thực tế nó chỉ khác với lý trí mà không đối lập lại. Nói đúng hơn, nó phải được coi là ngoại lý tính (para-rationnelle) hay, đúng hơn, siêu lý tính (trans-rationnelle).

Có nhiều kiểu trực giác khác nhau. Trước tiên, người ta thấy có những trực giác cảm tính, tức là tri giác hữu thức về những ấn tượng nhìn, nghe, sò, v.v… do những kích thích đến từ bên ngoài tạo ra. Tôi không dừng lại ở mặt này, vì nó diễn ra ở trình độ tâm lý bình thường và không có liên quan với cái siêu thức.

Rồi đến trực giác về các ý tưởng, theo nghĩa được Platon dùng. Nó đến từ một vùng cao hơn vùng hoạt động thông thường của tinh thần. Do đó, có thể coi nó là siêu cá nhân.

Cũng có thể nói như vậy về những kiểu trực giác cao, tức là : những trực giác mỹ học, tôn giáo, thần bí và cả khoa học nữa (chẳng hạn, trực giác về toán cao cấp). Trên thực tế, nhiều người được coi như bình thường lại không có những kiểu trực giác này. Điều đó chứng tỏ sự khác nhau giữa đời sống tâm lý bình thường và đời sống mang tính siêu cá nhân.

Các trực giác hiện ra với ý thức được nhận biết theo hai lối. Một lối gần hơn với ý nghĩa từ nguyên của nó, có thể được mô tả như con mắt “nội tâm” mở ra, cho phép nhìn thấy, cảm thấy những hiện thực mà cái nhìn tinh thần bình thường không nhận thấy được. Lối kia có thể được so sánh với một tia sáng, một luồng sáng, một ánh chớp đi vào trường ý thức và được cái tôi nhận biết, nằm ở trung tâm ý thức và ở trình độ hay nơi ngụ bình thường. Một tính chất riêng biệt và giống nhau của các trực giác là tính đích thực của chúng. Chúng đem lại tri giác về toàn bộ đối tượng trong tính tổng thể của nó như một tổng thể hữu cơ. Do đó, chúng khác với nhận thức lý tính và nhận thức phân tích.

Keyserling nói rõ điều đó :

… Rốt cuộc, con người giống như mọi động vật khác, gắn liền với toàn bộ tập hợp các sinh vật và sự vật, và do không có bản năng hoặc do bản năng bị teo hẳn đi, con người không thể dựa vào những xung lực sơ đẳng của nó ; lúc đó ở con người phải nảy sinh cái tương đương với bản năng để có thể tự do định hướng trong thế giới. Theo nghĩa đó, chỉ có những người có trực giác mới là tự do. Vì lẽ đó, từ trong số người này mới nảy sinh ra những người phát giác lớn, những thủ lĩnh và những nhà cách tân…

Đó là một tính chất đặc thù khác nữa của trực giác, tức là sự định hướng của nó tới sự sinh thành, tới tương lai. Keyserling nói tiếp :

… Trực giác chọc thủng tấm màn che đậy tương lai và do đó, thâm nhập được cái có thể. Nhưng hiện thực bao giờ cũng nằm trong biến đổi, nên chỉ kẻ nào trực tiếp nắm được những gì dần dần có thể có được mới nhìn thấy được sự biến đổi một cách chính xác. Và nhìn thấy bằng hai cách : trước hết. người đó nhìn thấy sự tồn tại của những “cái có thể” nằm bên trên các sự kiện, sau đó, người đó trực tiếp nhìn thấy trong những ”cái có thể” ấy những gì có thể được thực hiện với những điều kiện nhất định. Hai cách tri giác ấy chỉ có thể đến từ sự thể nghiệm nội tâm chủ yếu về tính tổng thể…

Cuối cùng, trực giác gắn chặt với tình yêu.

Vì tất cả những lý do ấy, trực giác nắm đựợc thực chất, tức là cái vốn có, nằm bên ngoài phẩm chất của đối tượng. Vì vậy, đó là một trong những trường nghiên cứu của tâm lý học về thực thể mà Maslovv là người tiên phong.

  1. Sự tưởng tượng

Sự tưởng tượng có quan hệ mật thiết với trực giác, vì thường các trực giác không hiện ra với ý thức theo một lối trừu tượng đơn giản, mà dưới những hình ảnh. Do đó, nhiệm vụ đầu tiên là phải phân biệt nội dung, thực chất, ý tưởng tạo thành một trực giác với hình thức, với lớp áo của nó. Hình thức này mang một tính chất tượng trưng, và điều này đặt ra vấn đề thật quan trọng và phức tạp về thuyết tượng trưng. Chúng tôi sẽ bàn tới vấn đề đó sau.

Còn bây giờ, tôi chỉ nhấn mạnh rằng cái tượng trưng có một bản chất và một chức năng mang tính hai mặt và, ở một ý nghĩa nào đó, đối lập nhau, khiến nó có thể vừa che dậy vừa bộc lộ ra. Khi nó chiếm vị trí của hiện thực được nó thể hiện, nó che đậy hiện thực đó và, vì thế, nó là nguồn gốc của những ảo ảnh. Ngược lại, khi nó được thừa nhận như một phương tiện biểu hiện, thì đó là một con đường có ích và đôi khi cần thiết để đón nhận và sau đó truyền đi một hiện thực siêu việt.

Độc lập với chức năng nhận thức của nó, như một con đường, một cỗ xe tải của trực giác, sự tưởng tượng có những mặt khác nhau.

Trước hết, đó là sự tưởng tượng tái hiện đơn giản (simple imagination reproductive), tức là tái hiện những gì đã được ghi nhận, những cảm giác và ấn tượng người ta đã có (những hình ảnh ký ức hay thuộc ký ức). Những hình ảnh thường thấy nhất là những hình ảnh thị giác (ký ức thị giác), nhưng còn có cả những “hình ảnh” ghi lại những ấn tượng nhận được qua kênh các giác quan khác, trước hết là thính giác. Những hình ảnh ấy có tính tiềm tàng, được cất giữ trong cái mà ngườì ta có thể gọi là “những lưu trữ của cái vô thức”. Chúng có thể nảy nở tự phát trong ý thức hay có thể được gợi ra theo ý muốn. Khả năng cất giữ và gợi lại ấy là vô tận, có thể nói là không có giới hạn. Trong một số điều kiện đặc biệt (chẳng hạn, khi thôi miên hay trong những trạng thái sốt), những ký ức cụ thể về tuổi thơ có thể trở về. Sau đó là tài nhớ đáng kinh ngạc của những nhạc trưởng lớn, như Toscanini, có thể nhớ những tác phẩm âm nhạc, những bản giao hưởng trọn vẹn, khiến cho họ có thể chỉ huy dàn nhạc mà không cần đặt bản bè nhạc trước mặt mình. Cũng thật đáng ngạc nhiên về năng lực của một số người chơi có nhìn thấy cùng một lúc các quân cờ và những nước đi của chúng sau đó trên bàn cờ, đến mức họ có thể chơi một lúc mười lăm ván cờ hoặc hơn nữa.

Rồi đến sự tưởng tượng sáng tạo (imagination Creative) mà tầm quan trọng vô cùng lớn của nó vẫn chưa được thừa nhận đầy đủ và cũng chưa được sử dụng đầy đù, chẳng hạn trong giáo dục. Hoạt động của nó thường được biểu hiện trong các giấc mơ, mà các giấc mơ lại là sản phẩm hỗn hợp của hai cách sản xuất hình ảnh : tưởng tượng tái hiện và tưởng tượng sáng tạo mà tôi sẽ trỏ lại dưới đây.

  1. Sự lóe sáng (illumination)

Một trong những cách biểu hiện thường thấy nhất của cái siêu thức trong ý thức là sự lóe sáng tiếp theo sau “con mắt nội tâm’1 mở ra. Có nhiều cái gần gũi nhau giữa trực giác và sự lóe sáng, nhưng cũng có những điểm khác nhau đáng kể.

Theo một ý nghĩa chung, có thể nói rằng trực giác là một tia chớp dọi sáng một mặt, một biểu hiện riêng biệt cùa Hiện thực. Nhưng sự lóe sáng là một cái gì rộng lớn hơn và bền vững hơn. Đó là một sự nhìn thấy bản chất cốt tử và sự thống nhất tổng hợp của Hiện thực hay những diện mạo lớn của nó. Đó là sự nhận ra một luồng sáng phát ra từ chính Hiện thực, khác với ánh sáng vật chất.

Kiểu chiếu sáng ấy có thể được coi như sự phát hiện tính nội tại thần thánh, tính thống nhất của Đời sống toàn vũ trụ, được biểu hiện thành vô số hình thức. Bhagavad Gita mô tả rõ nhất điều đó ; trong tác phẩm này nó được gọi là “Khải thị Hình thức phổ biến”.

Nhiều nhà thơ đã trải qua thể nghiệm lóe sáng này và muốn thể hiện nó. Nhà thơ lớn nhất trong số đó là Dante ; Thiên đường của ông đây những sự thể hiện ánh sáng. Ở đoạn đầu của khúc Thánh ca này, ông khẳng định rõ ràng là đã có một thể nghiệm không thể tả thành lời được về Ánh sáng cao nhất, ánh sáng chói lọi trên “bầu trời” cao nhất, gần nhất vớì Hiện thực cao nhất là Thượng đế.

Vinh quang của người đang tác động lên tất cả

Thấm đầy vũ trụ và làm chói sáng

Mặt này ít hơn, mặt kia nhiều hơn.

Trên bầu trời có nhiều ánh sáng hơn của Người

Tôi đã đi ở đó, những kẻ nào từ nơi đó xuống đều không thể nói được tôi đã nhìn thấy ở đó những gì

Vì khi tới gần cái được yêu thích,

Trí tuệ của ta phong phú đến mức ký ức ta không thể nào theo kịp.

Trong: ý thức của những ai nhận ra nó. ánh sáng hiển hiện thành nhiều hộ mặt khác nhau, hay nói đúng: hơn, những bộ mặt khác nhau nổi hẳn lên trong ánh sáng ấy tùy từng cá nhân khác nhau, vì những bộ mặt này không tách rời nhau mà giao nhau và hòa vào nhau ờ những mức độ khác nhau. Có khi nổi bật lên sự nhận ra vẻ đẹp, như ờ Tatrore ở những người khác, thì mặt nhận thức là quan trọng nhất, như ở trường hợp Plotin hay Thầy Eckhart.

Trong số những nhà thần bí Kitô giáo, ngay cả ở phương Đông thì đó là mặt gắn vỏi tình thương yêu, với sụ sùng kính, ớ những nguời khác nữa, sự lóe sáng gây ra trước nhất một niềm vui có thể đi tới niềm hạnh phúc ngây ngất. Nhưng, tôi xin nhắc lại. đó là sự nổi trội của mặt này hay mặt khác của nó : nói chung:, tất cả các mặt đều hiện hữu ở một mức độ nào đó. Còn Dante thì đã thể hiện một cách tuyệt diệu sự hòa trộn những mặt ấy.

  1. Sự phái hiện (Khải thị)

Một kiểu thể nghiệm lóe sáng: khác với những kiểu đã được mô tả cho tới đây là “hiểu ra”, nhận ra – thường là bất ngờ – con người là cái gì, tức là sự phát hiện ra những gì một con ngưòi đang có.

Sự phát hiện này có hai mặt và hai loại hiệu ứng, khác nhau và thậm chí đối lập nhau. Hình thức phát hiện thứ nhất mang một tính chất rất tích cực : đó là sự nhìn thấy những tiềm năng ngầm ẩn hay tích cực đáng kinh ngạc của những trình độ siêu thức. Điêu đó có thể tạo ra một nguồn sáng phát hiện về Ngã tâm linh. Cộng thêm vào đó là một sự hiểu biết mới : hiểu đúng về mình và về những người khác. Ý thức cảm thấy một sự mở rộng, bành trướng; nó bị xâm lấn bởi những cảm giác về niềm vui, về lòng từ thiện, về tình yêu thương và lòng biết ơn.

Nhưng sự phát hiện ấy, nếu nó là bất ngờ, đáng kinh ngạc hay quá mãnh liệt, cũng có thể gây ra những phản ứng không đáng mong muốn, thậm chí có hại. Nó có thể gây ra một sự kích thích, một sự kích động. Nếu không hiểu được sự khác nhau giữa Ngã tâm linh và cái tôi cá nhân, thì có thứ tự gán cho mình những phẩm chất và những khả năng của Ngã, thậm chí có thể đi tới chứng vĩ cuồng.

Trái lại. một hình thức phát hiện khác lại làm nổi lên những mặt thấp kém, đen tối, của nhân cách mà cho đến lúc đó vẫn chưa biết tới, chưa được nhận ra, thậm chí bị phủ nhận và đẩy lùi vào cái vô thức ở những mức độ khác nhau, và tạo ra cái mà Jung gọi là “bóng tối” (ombre). Sự phát hiện ấy, một khi này ra. có thể làm người ta ngao ngán và gây ra những trạng thái trầm cảm, sự hãi và thậm chí tuyệt vọng. Để ngăn ngừa và giảm bớt những mặt ấy, cần phải tự chuẩn bị về mặt tâm lý trước bằng cách tìm hiểu “tâm lý học về các chiều sâu”. Việc hiểu về tâm ]ý học này loại bỏ được cú sốc kinh ngạc và giúp chấp nhận sự phát hiện ấy, vì nó cho thấy rằng mặt tối tâm kia cũng là một phần của thân phận con người.

Có những phản ứng ít cực đoan hơn, nhưng vẫn có hại, có thể sinh ra ở trình độ thân thể nếu như hệ thần kinh không chịu được cường độ, điện áp cao, của những năng lượng tâm lý – tâm linh nảy sinh ra. Trong trường hợp này cũng vậy, một sự hiểu biết đề phòng, giống như sự hiểu biết về những trình độ khác nhau của bản chất con người do “tâm lý học ba chiều” (psychologie tridímensionnelle) đem lại, có thể làm nhẹ bớt những phản ứng ấy, giúp người ta chịu được chúng và chỉ ra những phương tiện loại bỏ chúng.

5 và 6. Ngẫu hứng và sáng tạo

Ngẫu hứng và sáng tạo tâm lý – tâm linh là những kiểu quan hệ và tương tác khác giữa cái siêu thức và cái hữu thức. Nó có ích để hiểu rõ sự khác nhau giữa lóe sáng, ngẫu hứng và sáng tạo và để nhớ kỹ sự khác nhau ấy, vì những điều đó thường bị lẫn lộn. Sự lóe sáng có thể đưa tới những ngẫu hứng, nhưng không phải bao giờ cũng như vậy, ở một số nhà thần bí, sự lóe sáng mang tính chủ quan. Nó có thể gây ra một trạng thái suy tưởng ; nó thường gây ra những cơn yêu thương và một khát vọng hòa nhập với Thượng đế, tự tiêu tan mình trong Hiện thực cao nhất. Nhưng nó không gây ra những biểu hiện bên ngoài, cũng không thúc đẩy tới hành động.

Hơn nữa, có thể có ngẫu hứng mà không có sự lóe sáng, không có sự nâng cao hay bành trướng của ý thức, như ngẫu hứng âm nhạc của trẻ vài tuổi cho thấy, chẳng hạn Mozart.

Cũng có một sự khác nhau rõ rệt giữa ngẫu hứng và sáng tạo. Nói cho thật đúng, ngẫu hứng là quá trình chuyển tiếp, đi xuống của những nội dung tương đối hoàn hảo, từ những trình độ siêu cá nhân xuống trường ý thức. Còn sự sáng tạo thì được tạo ra bối, hay chủ yếu bởi, các quá trình hình thành những nội dung ấy trước khi chúng đi xuống hay xuất hiện có ý thức. Sáng tạo giống với sự thụ thai và mang thai một cơ thể mới trong bụng mẹ, trong khi ngẫu húng thì giống với sự sinh đẻ, sự ra đời của cái đã được tạo ra.

Trong chuơng trước, tôi đã nói rõ sự giống nhau ấy và đã chỉ ra những dạng thức khác nhau của hai quá trình này. Tôi đã nói rằng sự “sinh đẻ” có thể diễn ra theo nhiều giai đoạn tạo dụng khác nhau. Đôi khi, sản phẩm đến với ý thức một cách thật thích hợp và đầy đủ, có thể sống một đời sống độc lập, như trong trường hợp ở nhiều động vật, về mặt sinh học. Trái lại, trong những trường hợp khác, nó hiện ra ở trạng thái thô, không đầy đủ, và để có một hình thức thích hợp, nó đòi hỏi phải có hoạt động của cái tôi hữu thức sau đó, đôi khi rất lớn. Tôi cũng đã chỉ ra rằng, giống như những gì xảy ra về mặt sinh học, sự sinh để có thể là tự phát, nhanh chóng, kèm theo một cảm giác vui mừng ;. Trái lại, có những lúc sự sinh đẻ phải khó khăn, kéo dài và đau đớn.

 

  1. Hiểu và lý giải

Theo một ý nghĩa nào đó, đây là giai đoạn quan trọng hơn cả. Các trực giác lóe sáng và phát hiện đã có phải được hiểu đúng để tránh những lý giải sai lạc, những sự ứng dụng, những hành động không thích hợp, thậm chí có hại. Những sai lầm như vậy có rất nhiều, và tôi có thể dẫn ra nhiều trường hợp. Đây là một ví dụ về hai kiểu khác nhau: một kiểu là lý giải sai một “mệnh lệnh” nhận được ở bên trong, một xung lực thúc đẩy hành động; kiểu thứ hai là do không hiểu được một chân lý xuất hiện trong trường ý thức

Một tình tiết quen thuộc trong cuộc đời của thánh Francois d’Assise là ví dụ thứ nhất. Ít lâu sau khi cải đạo, lúc ngài đang tĩnh tâm và cầu nguyện, một tiếng nói bên trong nói với ngài: “Hãy dựng nhà thờ cho ta”. Cách đó không xa một nhà thờ bị bỏ phế, nên ngài đã lý giải thông điệp ấy như một mệnh lệnh thần thánh là phải sửa sang nó và ngài đã chuẩn bị để làm công việc này. Chỉ sau đó ngài mới hiểu ra rằng thông điệp kia có một ý nghĩa hoàn toàn khác và rộng hơn: đó là sự phát hiện ra sứ mệnh của ngài trong việc “phục hưng” Giáo hội Gia tô giáo, mà vào thời đó Giáo hội này đã bị sa đọa. Và người ta đã biết rõ ngài thực hiện sứ mệnh của mình một cách đáng ngạc nhiên như thế nào.

Ví dụ kia là thuộc một bản chất hoàn toàn khác về một người rất khác. Đó là sự phát hiện chớp nhoàng cùa Nietzche về những chu kỳ lớn diễn ra trong sự hình thành vĩnh hằng của vũ trụ. Ông lý giải và thể hiện sự phát hiện ấy trong lý thuyết của mình về “sự trở về vĩnh hằng” (l’eternal retour). Theo ông, do thời gian không có giới hạn, trong những nguyên tử của vật chất hiện có, dù hết sức lớn, lại là hữu hạn, nên những sự kết hợp của chúng phải là bằng con số hữu hạn và do đó, sớm hay muộn, những sự kết hợp ấy phải tái diễn, và bao giờ cũng trở về một cách đồng nhất ad etrnum (vĩnh hằng). Tất nhiên, lý thuyết gây đau buồn ấy dựa vào một tiền đề sai, tức là số lượng các nguyên tử là hữu hạn và bất biến, trong khi – nếu gạt sang một bên sự vô lý vốn có của giả thuyết ấy – vật lý hiện đại đã chứng minh rằng nguyên tử thường xuyên phân giải và tạo thành những nguyên tử mới có những thuộc tính khác. Điều mà Nietzsche linh cảm thấy, đó là bản chất chu kỳ của sự biểu hiện vũ trụ, của quá trình tiến hóa. Đó là quan niệm của phương Đông về các chu kỳ lớn xuất hiện và biến mất của thế giới, về biểu hiện có tình đều kỳ của vật chất và sự tiến hóa của nó thành vô số hình thức khác nhau, liên tục được thể hiện vào tinh thần, vào cái không biểu hiện. Những phát hiện gần đây của thiên văn học về sự hình thành và phân giải của các thiên thể và các thiên hà đã xác nhận đầy đủ quan niệm này. Theo người phương Đông quan niệm này cũng được biểu hiện ở con người, trong biểu hiện chu kỳ của linh hồn và trong sự tiếp nối của thân thể. Đó là học thuyết về luân hồi. Nhưng quan niệm ấy không bao hàm một sự trở về với cái đồng nhất, mà nói đúng hơn, nó bao hàm một sự tái hiện dưới những hình thức ngày càng cao hơn. Đó là một sự tiến hóa theo hình xoáy trôn ốc đi lên. Ở đây, Nietzsche cho chúng ta một ví dụ rõ ràng về sự lý giải sai một trực giác đúng.

Trong lĩnh vực tâm lý học. vấn đề lý giải các tượng trưng luôn luôn nảy sinh. Có thể thấy rõ những sai lầm và lẫn lộn thường có và thậm chí liên tục trong sự lý giải, chẳng hạn, về tính tượng trưng của các giấc mơ. Sai lầm và lẫn lộn cũng xảy ra cả trong sự lý giải các huyền thoại và tính tượng trưng của tác phẩm nghệ thuật hay văn học. Sai lầm thường xảy đến từ những ý tưởng định sẵn hay từ những lý thuyết riêng biệt của những người lý giải ; những khó khăn còn là ở chỗ các tượng trưng có thể có những ý nghĩa khác nhau và có những trình độ hiện thực khác nhau, tuy không bác bỏ và loại trừ nhau.

Bây giờ hãy lấy một trường hợp ngẫu hứng tự phát gần giống với trường hợp của Maria Gallotti như đã trình bày trong chương trước, nhưng lại khác với trường hợp này về nhiều mặt khác nhau và làm sáng rõ một số tính chất đặc biệt của hoạt động diễn ra ở những trình độ siêu thức, cũng như những quan hệ của những trình độ này với ý thức.

Đây là một phụ nữ trẻ tuổi mà tói dã chủa bệnh trong nhiều năm, tuy không thường xuyên, vì tôi thường vắng mặt ờ thành phố nơi người đó ở, nhưng vẫn thu từ với nhau khi tôi ở xa. chỉ trừ những năm chiến tranh từ 1941 đến 1945. Ở đây tôi gọi người phụ nữ đó là Lucia. Xét về mặt lâm sàng, Lucia chẳng có gì là khác thường cả, những triệu chứng của cô nằm trong khuôn khổ chứng suy nhược thần kinh – tâm lý : suy yếu thể chất, trầm cảm, khó tập trung tinh thần, và những chứng sợ khác nhau, trong đó rõ nhất là chứng hoảng hốt khi ra khỏi nhà. Môi trường gia đình thật ngột ngạt : ông bố độc đoán, bà mẹ hiền lành nhưng tinh thần hẹp hòi. Cô bị cấm theo đuổi học tập như mình mong muốn và cảm thấy cô đơn. Cô chưa có một sự thỏa mãn nào về mặt tình cảm. Nhờ được chữa bằng những kỹ thuật tổng hợp tâm lý khác nhau, tình trạng cùa cô dần dần khá lên đến mức cô đã khắc phục được chứng sợ các khoảng rộng (agoraphobie) và một mình du lịch vài ngày bằng xe lửa.

Tôi xin nhắc lại rằng trong tất cả những điều nói trên, chẳng có gì là đặc biệt cả. Trái lại, những biểu hiện riêng biệt, thú vị vê các mặt khác nhau thường này sinh do sử dụng kỹ thuật vẽ tự do. Lúc đầu, các hình vẽ gồm có những đường, những hình hình học nói lên các trạng thái tự nhiên một cách sơ lược (mặt trời, biến, núi) và những mục tiêu đơn giản. Nhưng rồi trong những hình vẽ ấy nhanh chóng hiện ra những chữ và câu dựa theo những cái được vẽ ra và giải thích chúng. Sự phát triển này diễn ra tự phát, không có chỉ dẫn hay khuyến khích của tôi. Các câu viết diễn đạt những trạng thái tâm hồn khác nhau, rồi những khát vọng, những mong muốn ngày càng rõ về giải thoát và nâng cao, những tia chớp trực giác có tính chất phổ biến, vũ trụ. Đây là hai trong số những câu do cô viết từ 1932 đến 1935 :

Bộ mặt Thượng đế bị che đậy. Những làn sóng bí ẩn xuyên qua bầu trời. Trên những vùng thượng giới, ngọn gió vũ trụ thổi qua. Ý thức không muốn thừa nhận nó.

Trên những chiêu cao của không gian, cái nhìn mở rộng ra. Xuyên qua cuộc đời là chu kỳ lịch sử của nó. Cái toàn thể vĩ đại vẫn im lìm.

Rồi việc vẽ các bức hình giảm dần, cho tới khi cô thôi vẽ hoặc gần như thế vào năm 1940, trước khi lại hăng hái vẽ lại; các nức vẽ dần dần được thay thế bằng những bài viết mang một hình thức thơ rất đặc biệt. Những bài viết này ngày càng mang tính chất những thông điệp đến từ những trình độ siêu thức.

Sự phân biệt rành mạch, thậm chí có khi là sự đổi lập giữa ý thức tinh bình thường và nguồn ngẫu hứng của cô đã được Lucia nhận rõ và được cô thể hiện.

 

Phong cách các thông điệp thường thay đổi, mang những cách thể hiện lạ lùng, có khi kỳ cục, nhưng thật sống động và diễn cảm. Ở một vài mặt, nó gần giống với phong cách của các nhà thơ siêu thực. Những nhà thơ này đôi khi bị nghi ngờ là đã diễn đạt theo lối cố tình, hết sức có dụng ý, thậm chí với một ý định không tốt. Nhưng sự nghi ngờ này trong nhiều trường hợp là không đúng: trong trường hợp của Lucia, điều đó hoàn toàn bị loại trừ vì chính cô là người đầu tiên lấy làm kinh ngạc với những gì do bàn tay mình viết ra. 

Những gì xảy ra trong những trường hợp đó là sự đột nhập của những yếu tố và những hoạt động của cái vô thức dưới một hình thức thô thiển, chưa trau dồi và cũng chưa có sự cấu trúc bình thường để đi tới một lối diễn đạt bằng lời lẽ có phối hợp và dễ truyền đạt.

Nhưng điều quan trọng nhất là bản chất, nội dung của các thông điệp. Chúng có thể đến từ tất cả các trình độ của cái vô thức, từ thấp nhất đến cao nhất. Trong trường hợp của Lucia, các thông điệp nói chung mang một giọng và những nội dung cao, thuộc về lĩnh vực siêu cá nhân.

Những đề tài được nhấn mạnh hơn cả là sự nhìn thấy một tương lai rạng rỡ: một sự đổi mới cấp bách của loài người: những điềm báo và những chỉ dẫn về một Kỷ nguyên mới: sự xuất hiện của những Thực thể cao cấp như những người tiên phong và những người sáng tạo.
Thái độ của Lucia đối với nguồn ngẫu hứng của mình là cân bằng và nói cho đúng, cô không biết tới nó. Cô không coi nguồn này như một thực thể bên ngoài, mà để cho những cách gọi nguồn đó (Thượng Đế, Người chỉ huy, …) mang tính chất tượng trưng của một sự “nhân cách hóa tâm lý”.

Cần nhớ rằng khi viết, Lucia không bao giờ để mình mất ý thức đi. Điều đó làm cho cô khác với tất cả những ai đã viết – đôi khi cả những bộ tiểu thuyết dài – trong một trạng thái thôi miên hay lên đồng mà không biết mình đang làm gì. Lối viết tự động ấy không nên khuyến khích, vì nó có xu hướng tạo ra hoặc tăng thêm một sự phân ly tâm lý và có thể mở cửa cho thấy rằng sự duy trì ý thức tỉnh táo không phải là trở ngại đối với ngẫu hứng đến từ những trình độ siêu cá nhân.

Chúng ta có thể rút ra những kết luận gì từ những bức vẽ và bài viết được sản xuất theo lối tự phát của Maria Gallotti và Lucia nhắc tới trên đây, cũng như từ những trường hợp khác có cùng nguồn gốc được Myers kể lại trong cuốn sách của ông Nhân cách con người, và được những chuyên gia khác nhau mô tả về những hiện tượng ấy ? Ở đó, người ta thấy một sự xác nhận hiển nhiên về những điều đã được tâm lý học nhân văn chủ nghĩa và tâm lý học siêu cá nhân (Sức mạnh thứ Ba và thứ Tư trong tâm lý học) chứng minh : trong tâm hồn con người, có nhiều năng lực và năng lượng nói chung chưa được biết tới, những khả năng sáng tạo và biểu hiện đáng ngạc nhiên tồn tại trong trạng thái tiềm ẩn, sẵn sàng được bộc lộ một khi người ta mang lại cho chúng những điều kiện mong muốn !

Những chứng minh hiển nhiên nhất, một mặt, được cung cấp bằng những biểu hiện tự phát mà chúng ta vừa nói tới, mặt khác, bằng việc có nhiều trẻ em hay thanh niên tài năng khác thường cũng như nhiều nhân vật xuất chúng : các giáo sĩ, nghệ sĩ và các nhà khoa học thiên tài, các nhà giáo dục v! đại và những ân nhân lớn của loài người.

Những người có tài năng khác thường, với những phẩm chất đặc biệt có khi nảy nở từ những năm đầu tiên của họ, đã bắt đầu được thừa nhận và quí trọng, nhưng vẫn còn theo một lối hạn chế và không thích hợp. Không những có những sự hiểu sai, mà còn có những sự chống đối, thậm chí đối địch với họ nữa, vì những lý do khác nhau mà tôi không muốn dừng lại ở đây. Thế nhưng, có hai lý do buộc chúng ta phải quan tâm tới những người có tài năng khác thường.

Thứ nhất, họ !à nguyên tô con người quí giá nhất, có thể so sánh với uranium có những phóng xạ mạnh.

Lý do thứ hai là không hiếm khi người ta thấy những người có tài nănq khác thưòng có những năng lượng quá phong phú ở tất cả các trình độ của họ. Khi sự biểu hiện của nó bị ngăn cản hay bị gò bó, có thể nảy sinh những hiệu quả phá hoại, những biểu hiện chống xã hội và thậm chí những tội ác nữa.

Người ta đã xác nhận rằng trong số những đứa trẻ và thiếu niên bị giữ ở những nơi được gọi một cách mỉa mai đáng buồn là “Nhà Chỉnh đổn” (Maisons de Correction), có một tỉ lệ đáng kể những em có tài năng đặc biệt. Đôi khi, trong số đó có những em đã từng trải qua một sự thức tỉnh tâm linh tự phát. Nếu điều đó không được thừa nhận và nếu chúng vẫn bị giữ trong một chế độ đàn áp, thì chúng ngày càng trở thành những kẻ chống xã hội, và khi được trả lại tự do chúng có thể trở thành hung dữ, thậm chí trở thành những tên tội phạm nguy hiểm. Vì lợi ích cấp bách của xã hội, phải làm tất cả những gì có thể làm được để ngăn ngừa nguy cơ ấy và để hướng những năng lượng dồi dào ấy vào những hoạt động xây dựng và sáng tạo.

Có thể làm được nhiều việc theo hướng này ; đã có nhiều giải pháp mang bản chất khác nhau, từ những ứng xử cao hơn như sự thông cảm, thiện cảm, tình yêu thương cho đến những kỹ thuật trị liệu tâm lý và giáo dục khác nhau ngày càng được biết tới và trong số đó, cần phải chú ý tới những kỹ thuật đơn giản nhất và dễ thực hiện nhất : vẽ và viết.

Tất cả chúng ta đều phải coi nghĩa vụ của mình là phổ biến kiến thức, khuyến khích các thầy thuốc và các nhà giáo dục sử dụng và giúp cho các bậc bố mẹ sử dụng những kiến thức đó. Chính là bằng cách ấy mà người ta sẽ có thể ngăn ngừa những điều ác đang đe dọa trạng thái hòa bình dân sự và chuẩn bị cho sự xuất hiện một Kỷ nguyên mới. Lúc đó, sẽ có thể thực hiện được một sự tổng hợp tâm lý toàn hành tinh, không có chiến tranh, cũng không có những cuộc đấu tranh xã hội dữ dội, và trong đó những tiềm năng con người cao nhất sẽ được sử dụng một cách rộng lớn nhất.

[1] Đó là một trong những đặc trưng được W. Jemes gán cho thể nghiệm thần bí, trong cuốn sách của ông Những thể nghiệm tôn giáo khác nhau.

[2] Empathie : Năng lực tự đồng nhất với một người nào, cảm nhận điều người đó cảm nhận ỉ theo Từ điển Robert. N.D.)

Trích từ sách “Sự phát triển siêu cá nhân” – Roberto Assagioli

 

Nghiên cứu tôn giáo
Ta có thể ẩn mình trong vỏ hạt dẻ những vẫn là Thượng Đế của vũ trụ vô biên.
Share:
Nghiên cứu tôn giáo

Leave a reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *