Hành trình tinh thầnTrích đoạn kinh sách

Lão Tử Đạo Đức Kinh (5): Yếm sỉ, tán huyền, hiển đức

Chương 13

 

Phiên âm:

 

[Sủng nhục nhược kinh , quý đại hoạn nhược thân] . 

Hà vị sủng nhục nhược kinh ? Sủng vi thượng, sủng vi hạ , đắc chi nhược kinh , thất chi nhược kinh , thị vị sủng nhục nhược kinh . 

Hà vị quý đại hoạn nhược thân ?  Ngô sở dĩ hữu đại hoạn giả , vị ngô hữu thân , cập ngô vô thân , ngô hữu hà hoạn ?

Cố quý dĩ thân vị thiên hạ , nhược khả kí thiên hạ ﹔ái dĩ thân vi thiên hạ , nhược khả thác thiên hạ .

 

Dịch nghĩa và lời bàn:

 

Chương này tối nghĩa, nhiều nhà cho là chép sai hoặc thiết sót nên đã hiệu đính và chú thích; nhưng vẫn chưa có bản nào làm cho chúng ta thỏa mãn: nếu không gượng gạo, gò ép thì lại mắc cái lỗi không thông, dưới mâu thuẫn với trên hoặc có một vài ý mâu thuẫn với chủ trương của Lão tử.  Dư Bồi Lâm (sách đã dẫn) đã gắng sức chú thích cho ý nghĩa được nhất quán, và dưới đây chúng tôi tạm theo thuyết của ông.

Đại ý ông bảo: Hai chữ “nhược 若” trong câu đầu nghĩa như chữ “nãi 乃” (thời xưa hai chữ đó đọc giống nhau, nên dùng thay nhau), nghĩa là “bèn, thì, do đó mà…”.  Nhiều người không hiểu vậy, giảng là “như tối”, hoặc sửa lại là chữ “giả”, như vậy vô nghĩa: Chữ “quý 貴” nghĩa là coi trọng, tức sợ (theo Hà Thượng Công); còn chữ “thân 身” với chữ “kinh 驚” ở trên là “hỗ bị ngữ” tức những chữ làm đủ nghĩa lẫn nhau, đọc chữ sau thì phải coi ngược lên chữ trước mới thấy nghĩa.  (1), và nghĩa nó cũng là “kinh”.  Vậy câu đầu có nghĩa là: Vinh, nhục thì lòng sinh ra rối loạn, sợ vạ lớn thì lòng rối loạn.

Câu đó là cổ ngữ, chứ không phải của Lão tử vì Lão tử chủ trương “vô dục” (Ngã vô dục nhi dân tự hóa – chương 57); “hậu kỳ thân, ngoại kỳ thân” (chương 7), thì đâu lại để cho vinh nhục, đắc thất làm cho rối loạn, đâu lại “coi trọng cái vạ lớn như bản thân mình”.  Vì vậy, Dư Bồi Lâm đặt câu đó trong dấu móc [ ].  Những câu sau mới là lời giải thích của Lão tử.  Và Dư dịch như sau: [Người đời được vinh hay bị nhục thì lòng sinh ra rối loạn, sợ vạ lớn thì sinh ra rối loạn].

Tại sao vinh, nhục sinh ra rối loạn? Là vì vinh thì được tôn, nhục thì bị hèn; được thì lòng [mừng rỡ mà] rối loạn, mất thì lòng [rầu rĩ mà] rối loạn; cho nên bảo là vinh nhục sinh ra rối loạn.

Tại sao sợ vạ lớn mà sinh ra rối loạn? Chúng ta sợ dĩ sợ vạ lớn là vì ta có cái thân.  Nếu ta không có thân [quên mình có thân đi] thì còn sợ gì tai vạ nữa.

Cho nên người nào coi trọng sự hy sinh thân mình cho thiên hạ thì có thể giao thiên hạ cho người đó được.  Người nào vui vẻ đem thân mình phục vụ thiên hạ thì có thể gởi thiên hạ cho người đó được.

Dư Bồi Lâm dịch như vậy nhưng cũng nhận rằng đó chỉ là thiển kiến của ông, không dám chắc là đúng.

Câu cuối chúng tôi thấy còn 4 bản dịch khác để độc giả lựa chọn.

     1. Kẻ nào biết quý thân vì thiên hạ thì giao phó thiên hạ cho được.  Kẻ nào biết thương thân vì thiên hạ thì gởi gắm thiên hạ cho được.

     2. Kẻ nào quý thân mình vì thiên hạ thì có thể sống trong thiên hạ được.  Kẻ nào yêu thân mình vì thiên hạ thì có thể ký thác mình cho thiên hạ được.

     3. Kẻ nào coi trọng thiên hạ như bản thân mình thì có thể giao phó thiên hạ cho được.  Kẻ nào yêu thiên hạ như yêu bản thân mình thì có thể giao cho việc trị thiên hạ được.

     4. Kẻ nào quý thân mình hơn cả thiên hạ thì có thể giao cho việc trị thiên hạ được.  Kẻ nào yêu thân mình hơn cả thiên hạ thì có thể giao cho việc trị thiên hạ được.

 

Chương 14

 

Phiên âm:

 

Thị chi bất kiến danh viết di ﹔thính chi bất văn danh viết hi ﹔bác chi bất đắc danh viết vi .  Thử tam giả bất khả trí cật , cố hỗn nhi vi nhất . 

Kì thượng bất kiểu , kì hạ bất muội , thằng thằng bất khả danh , phục quy ư vô vật .  Thị vị vô trạng chi trạng , vô vật chi tượng , thị vị hốt hoảng .  Nghinh chi bất kiến kì thủ , tuỳ chi bất kiến kì hậu . 

Chấp cổ chi đạo , dĩ ngự kim chi hữu ; năng tri cổ thỉ , thị vị đạo kỉ .

 

Dịch nghĩa:

 

Nhìn không thấy gọi là di, nghe không thấy gọi là hi, nắm không được gọi là vi.  Ba cái đó (di, hi, vi, tức vô sắc, vô thanh, vô hình) truy cứu đến cùng cũng không biết gì được, chỉ thấy trộn lộn làm một thôi. 

Ở trên không sáng, ở dưới không tối, thâm viễn bất tuyệt, không thể gọi tên, nó lại trở về cõi vô vật, cho nên bảo là cái trạng không có hình trạng, cái tượng không có vật thể.  Nó thấ thoáng, mập mờ. 

Đón nó thì không thấy đầu, theo nó thì không thấy đuôi. Ai giữ được cái đạo từ xưa vẫn có thì có thể khống chế được mọi sự vật ngày nay; biết được cái nguyên thủy tức là nắm được giềng mối của đạo.

 

 Lời bàn:

 

Chương này nói về bản thể của đạo, vô sắc, vô thanh, vô hình, nên không thể giảng được, gọi tên được.  Nhưng nó đầy khắp vũ trụ, là căn nguyên của vạn vật, hễ giữ được nó là nắm được chân lý mà xử lý được mọi sự vật

 

Chương 15

 

Phiên âm: 

 

Cổ chi thiện vi đạo giả , vi diệu huyền thông , thâm bất khả thức .  Phù duy bất khả thức , cố cưỡng vị chi dung :

Dự hề , nhược đông thiệp xuyên ﹔do hề , nhược úy tứ lân ﹔nghiễm hề , kì nhược khách ﹔hoán hề , nhược băng chi tương thích ﹔đôn hề , kì nhược phác ﹔khoáng hề , kì nhược cốc ﹔hỗn hề , kì nhược trọc . 

Thục năng trọc dĩ tĩnh chi từ thanh .  Thục năng an dĩ động chi từ sinh . 

Bảo thủ đạo giả , bất dục doanh .  Phù duy bất doanh , cố năng tế nhi tân thành  .

 

Dịch nghĩa: 

 

Người đắc đạo thời xưa tinh tế, mầu nhiệm, thông đạt, sâu xa không thể biết được.  Vì không thể biết được, nên phải miễn cưỡng tả họ như sau:

Họ rụt rè như mùa đông lội qua sông, nghi ngại như sợ láng giềng bốn bên, nghiêm chỉnh như một người khách, chảy ra, lưu động như băng tan, dày dặn mộc mạc như gỗ chưa đẽo, không hư như cái hang, hỗn độn (lờ đờ) như nước đục.

Ai có thể đương đục mà lắng xuống để lần lần trong ra? Ai có thể đương hư tĩnh mà phát động để lần lần sinh động lên? 

Người nào giữ được đạo ấy thì không tự mãn.  Vì không tự mãn nên mới bỏ cái cũ mà canh tân được.

 

   Lời bàn:

 

Chương này bản của Vương Bật đã được nhiều người đời sau hiệu đính, do đó hiện nay có nhiều bản khác nhau, như chúng tôi đã ghi sơ ở cước chú.  Đại khái, chữ tuy khác mà nghĩa như nhau, trừ câu cuối, để chữ bất, không đổi ra chữ nhi, thì nghĩa ngược hẳn: “Vì không đầy nên có thể che lấp, chẳng trở nên mới; Chúng tôi nghĩ chữ tế ở đây dùng như chữ “tệ” ở chương 22, và nghĩa tệ nhi tân thành ở đây cũng là nghĩa “tệ tắc tân” ở chương 22. Vì vậy chúng tôi cho đổi ra chữ nhi là phải, và dịch là: “bỏ cái cũ mà canh tân”.

Đoạn thứ nhì, có người giải thích chữ “hoán” là giải tán, chữ “thích” là tiêu vong; và “hoán hề nhược băng thi tương thích” là diệt tình dục, lòng thành ra hư không.  Chữ “hồn” (hồn hề kỳ nhược trọc), có người giải thích là hồn nhiên, bề ngoài tựa như ngu muội.

Đoạn cuối: “đương đục mà lắng xuống để lần lần trong ra” là từ đời sống hỗn trọc ngày nay trở về đạo, “đương hư tĩnh mà phát động để lần lần sinh động lên”, là ngược lại, từ đạo trở xuống đời sống hiện tại.

Giọng văn ở chương này khác hẳn các chương trên, giống thể từ phú ở cuối đời Chiến Quốc, cho nên chúng tôi ngờ không phải là lời của Lão tử, cũng không phải viết sau khi Lão tử mới mất.

Nguồn: Đạo Đức Kinh – Lão Tử – phiên âm và bản dịch của Lê Hiếu

Nghiên cứu tôn giáo
Ta có thể ẩn mình trong vỏ hạt dẻ những vẫn là Thượng Đế của vũ trụ vô biên.
Share:
Nghiên cứu tôn giáo

Leave a reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *