Hành trình tinh thầnTrích đoạn kinh sách

Lão Tử Đạo Đức Kinh (7): Hoàn thuần, dị tục, hư tâm

Chương 19

 

Phiên âm:

 

Tuyệt thánh khí trí , dân lợi bách bội ﹔

Tuyệt nhân khí nghĩa , dân phục hiếu từ ﹔

Tuyệt xảo khí lợi , đạo tặc vô hữu . 

Thử tam giả dĩ vi văn , bất túc ,

Cố linh hữu sở thuộc :kiến tố bão phác , thiểu tư quả dục  .

 

Dịch nghĩa: 

 

Dứt thánh (thánh hiểu theo quan niệm Khổng, Mặc) bỏ trí, dân lợi gấp trăm;

Dứt nhân bỏ nghĩa, dân lại hiếu từ;

Dứt (trí) xảo bỏ lợi, không có trộm giặc.

Ba cái đó (thánh trí, nhân nghĩa, xảo lợi) vì là cái văn vẻ (trang sức bề ngoài) không đủ (để trị dân) cho nên (phải bỏ mà) khiến cho dân qui (hoặc chuyên chú) về điều này: ngoài thì biểu hiện sự mộc mạc (tố), trong thì giữ sự chất phác (phác), giảm tư tâm (tư), bớt dục vọng (dục).

 

Lời bàn:

 

Trong câu nhì, chữ văn trái với chữ phác.  Bỏ ba cái “văn” đó mới chỉ là tiêu cực; phải mộc mạc, chất phác, giảm tư tâm, bớt dục mới là tích cực.

 

Chương 20

 

   Phiên âm:

 

Tuyệt học vô ưu, duy chi dữ a , tương khứ kỉ hà ?

Thiện chi dữ ác , tương khứ nhược hà ?

Nhân chi sở úy , bất khả bất úy .  Hoang hề kì vị ương tai !

Chúng nhân hi hi , như hưởng thái lao , như xuân đăng đài.

Ngã độc bạc hề kì vị triệu ﹔như anh nhi chi vị hài ﹔luy luy hề nhược vô sở quy . 

Chúng nhân giai hữu dư , nhi ngã độc nhược di . Ngã ngu nhân chi tâm dã tai , độn độn hề !Tục nhân chiêu chiêu , ngã độc hôn hôn .  Tục nhân sát sát , ngã độc muộn muộn , đạm hề kì nhược hải , liêu hề nhược vô chỉ .  Chúng nhân giai hữu dĩ , nhi ngã độc ngoan thả bỉ . 

Ngã độc dị ư nhân , nhi quý thực mẫu  .

 

Dịch nghĩa:

 

Dứt học thì không lo.  Dạ (giọng kính trọng) với ơi (giọng coi thường) khác nhau bao nhiêu?  Thiện với ác khác nhau thế nào? Cái người ta sợ, ta không thể không sợ.  Rộng lớn thay, không sao hết được!

Mọi người hớn hở như hưởng bữa tiệc lớn, như mùa xuân lên đài; riêng ta điềm tĩnh, không lộ chút tình ý gì như đứa trẻ mới sinh, chưa biết cười; rũ rượi mà đi như không có nhà để về.

Mọi người đề có thừa, riêng ta như thiếu thốn; lòng ta ngu muội, đần độn thay!

Người đời sáng rỡ, riêng ta tối tăm; người đời trong trẻo, riêng ta hỗn độn, như sóng biển nhấp nhô, như gió vèo vèo không ngừng.

Mọi người đều có chỗ dùng, riêng ta ngoan cố mà bỉ lậu.  Riêng ta khác người, mà quí mẹ nuôi muôn loài (tức đạo).

 

Lời bàn:

 

Chương này có nhiều bản, nếu dẫn hết những chỗ khác nhau thì quá rườm.

Bốn chữ đầu “tuyệt học vô ưu”, Trần Trụ bảo nên để ở đầu chương trên, Hồ Thích bảo nên để ở cuối chương trên.  Để ở đâu cũng khó ổn.

Rồi cả đoạn đầu, ý nghĩa cũng tối tăm, cơ hồ không liên lạc gì với đoạn dưới.  “Cái người ta sợ” là cái gì?  Và cái gì “rộng lớn thay”?

Mỗi nhà rán đưa ra một thuyết.  Có người bảo là sợ cái học vì nó mênh mông, không sao hết được.  Giảng như vậy thì bốn chữ “tuyệt học vô ưu” không chơi vơi nữa.

Nhưng có nhà lại bảo: sợ đây là sợ để lộ cái sáng suốt, tài năng của mình ra, mà sẽ bị người đời đố kỵ; còn rộng lớn là cái đạo rộng lớn, người đời không sao hiểu hết được.

Cả hai giả thuyết đó đều không dựa vào cái gì chắc chắn cả.  Chúng tôi xin tồn nghi, chỉ dịch sát từng chữ, để độc giả muốn hiểu sao thì hiểu.

Đoạn dưới tả chân dung một người đắc đạo: cực sáng suốt thì như ngu độn.

Cũng như Chương 15, chương này không chắc là lời của Lão tử.

 

Chương 21

 

Phiên âm:

 

Khổng đức chi dung , duy đạo thị tòng . 

Đạo chi vi vật , duy hoảng duy hốt ; hốt hề hoảng hề , kì trung hữu tượng ﹔hoảng hề hốt hề , kì trung hữu vật ﹔yểu hề minh hề , kì trung hữu tinh ﹔kì tinh thậm chân , kì trung hữu tín . 

Tự cổ cập kim , kì danh bất khứ , dĩ duyệt chúng phủ . 

Ngô hà dĩ tri chúng phủ chi trang tai .  Dĩ thử .

 

Dịch nghĩa:

 

Những biểu hiện của đức lớn đều tùy theo đạo (vì đạo là bản thể của đức, đức là tác dụng của đạo).

Đạo là cái gì chỉ mập mờ, thấp thoáng; thấp thoáng mập mờ mà bên trong có hình tượng; mập mờ, thấp thoáng mà bên trong có vật; nó thâm viễn, tối tăm mà bên trong có cái tinh túy; tinh túy đó rất xác thực, và rất đáng tin.

Từ xưa đến nay, đạo tồn tại hoài, nó sáng tạo vạn vật.  Chúng ta do đâu mà biết được bản nguyên của vạn vật? Do cái đó (tức đạo).

 

   Lời bàn:

 

Câu đầu, có người hiểu là: ngôn ngữ, cử động của người có đức lớn đều tùy theo đạo.

Chữ “tinh” (kỳ trung hữu tinh) trong đoạn thứ nhì có thể hiểu là nguyên lý và nguyên chất của mọi vật.  Chữ “tín” ở sau, có người dịch là hiệu năng, diệu dụng (efficience).

Đoạn cuối: chữ “danh” (tên) có người cho là trỏ bản thể của đạo.

Chương này cho ta biết thêm về đạo.  Quan trọng nhất là những chữ “kỳ trung hữu tinh, kỳ tinh thậm chân, kỳ trung hữu tín”.  Nhờ cái “tinh” đó mà đạo sinh ra vạn vật.  Nhưng cái tinh đó hữu hình hay vô hình?

Không có gì cho chúng ta biết chắc được.  Có lẽ nó vừa là nguyên lý, vừa là nguyên chất.

Nguồn: Đạo Đức Kinh – Lão Tử – phiên âm và bản dịch của Lê Hiếu

Nghiên cứu tôn giáo
Ta có thể ẩn mình trong vỏ hạt dẻ những vẫn là Thượng Đế của vũ trụ vô biên.
Share:
Nghiên cứu tôn giáo

Leave a reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *