Hành trình tinh thầnTrích đoạn kinh sách

Lão Tử Đạo Đức Kinh (8): Ích khiêm, hư vô, khổ ân

Chương 22

 

Phiên âm:

 

Khúc tắc toàn , uổng tắc trực , oa tắc doanh , tệ tắc tân , thiếu tắc đắc , đa tắc hoặc . 

Thị dĩ thánh nhân bão nhất vi thiên hạ thức .  Bất tự hiện cố minh bất tự thị cố chương ﹔bất tự phạt ,cố hữu công ﹔bất tự căng cố trướng . 

Phù duy bất tranh cố thiên hạ mạc năng dữ chi tranh . 

Cổ chi sở vị khúc tắc toàn giả , khởi hư ngôn tai !thành toàn nhi quy chi .

 

Dịch nghĩa:

 

Cong [chịu khuất] thì sẽ được bảo toàn, queo thì sẽ thẳng ra, trũng thì sẽ đầy, cũ nát thì sẽ mới, ít thì sẽ được thêm, nhiều thì sẽ hóa mê.

Vì vậy mà thánh nhân[thánh ở đây hiểu theo quan niệm của Lão] ôm giữ lấy đạo [nhất đây là đạo] làm phép tắc cho thiên hạ.  Không tự biểu hiện cho nên mới sáng tỏ, không tự cho là phải cho nên mới chói lọi, không tự kể công cho nên mới có công, không tự phụ cho nên mới trường cửu [hoặc hơn người].  Chỉ vì không tranh với ai cho nên không ai tranh giành với mình được.

Người xưa bảo: “Cong thì sẽ được bảo toàn”, đâu phải hư ngôn! Nên chân thành giữ vẹn cái đạo mà về với nó.

 

Lời bàn: 

 

Câu cuối: “Thành toàn nhi qui chi” có người dịch là:

– Thực vẹn đủ nên theo về.

– Nếu thành thật hoàn toàn thì ai cũng về với mình.

– Do đó mà mình giữ được toàn vẹn.

– Thực giữ được vẹn cái đạo chuyên đạo cũng giữ được vẹn cho mình mà mình về với đạo.

Các nhà bình giải đều cho rằng bốn hoặc cả sáu châm ngôn trong câu đầu: 【khúc tắc toàn, uổng tắc trực, oa tắc oanh, tệ tắc tân, thiểu tắc đắc, đa tấc hoặc】đều là thành ngữ trong dân gian đã có từ xưa. Họ bảo rằng: “Lão tử thích chủ trương thuyết tương đối, nên thường nói ngược với người đời, “nhu tri kì hùng, thủ kì thư, tri kì bạch, thủ kì hắc, tri kì vinh, thủ kì nhục” (chương 28). Ở đây cũng vậy. Người ta ai cũng muốn được toàn vẹn, thẳng, đầy, mới, có nhiều, riêng ông, cái gì người ta bỏ: cong, queo, trũng, cũ nhát, ít, thì ông lại coi trọng”.

Đạo vốn khiêm, nhu, người giữ đạo cũng phải khiêm nhu: cong, queo, tức là nhu, trũng, cũ, ít tức là khiêm. Khiêm nhu thắng được tự phụ cương cường. Đó là một lẽ. Còn lẽ nữa là trong vũ trụ không có cái gì bất di bất dịch, thịnh rồi suy, đầy rồi vơi, cho nên bây giờ ở vào trạng thái cong queo thì sau sẽ bảo toàn được sẽ thẳng ra; bây giờ ở vào trạng thái thấp trũng, cũ nát, ít thì sau sẽ được đầy, mới, nhiều.

Những kinh nghiệm đó thuộc vào cái túi khôn chung của nhân loại, chẳng riêng của Trung Hoa; Lão tử chỉ có công nhấn mạnh vào coi trọng nó hơn những người khác và sắp đặt thành một hệ thống mà dùng đạo, tức luật thiên nhiên làm cơ sở.

 

Chương 23

 

Phiên âm:

 

Hi ngôn tự nhiên .

Cố phiêu phong bất chung triêu , sậu vũ bất chung nhật .  Thục vi thử giả ? Thiên địa .  Thiên địa thượng bất năng cửu , nhi huống ư nhân hồ ? 

Cố tòng sự ư đạo giả , đồng ư đạo ﹔đức giả , đồng ư đức ﹔thất giả , đồng ư thất .  Đồng ư đạo giả , đạo diệc lạc đắc chi ﹔đồng ư đức giả , đức diệc lạc đắc chi ﹔đồng ư thất giả , thất diệc lạc đắc chi . 

Tín bất túc yên , hữu bất tín yên .

 

Dịch nghĩa:

 

Ít nói thì hợp với tự nhiên (với đạo).

Cho nên gió lốc không hết buổi sáng, mưa rào không suốt ngày.  Ai làm nên những cái ấy?  Trời đất.  Trời đất còn không thể lâu được, huống hồ là người?

Cho nên theo đạo thì sẽ hòa đồng với đạo; theo đức thì sẽ hòa đồng với đức; theo sự mất đạo mất đức thì sẽ là một với “mất”.  Hòa đồng với đạo thì sẽ vui được đạo; hòa đồng với đức thì sẽ vui được đức; là một với “mất” thì sẽ vui với “mất”.

Vua không đủ thành tín thì dân không tin.

 

Lời bàn: 

 

Chữ “thất” (mất) trong đoạn nhì có lẽ là chữ thất trong chương 38: thất đạo nhi hậu đức, thất đức nhi hậu nhân, thất nhân nhi hậu nghĩa, thất nghĩa nhi hậu lễ; và có thể hiểu là sự mất đạo, mất đức.  Theo sự mất đạo mất đức tức là theo nhân, nghĩa, lễ, theo cách trị dân của Khổng Giáo.  Lão tử cho cách đó là thấp.

Câu “đồng ư đạo giả, đạo diệc lạc đắc chi”, có thể hiểu là hòa đồng với đạo thì đạo cũng vui được ta mà hòa đồng với ta.  Như vậy là nhân cách hóa đạo.  Hai câu sau cũng vậy.  Hiểu theo cách này với hiểu như chúng tôi đã dịch, chung qui cũng không khác nhau.

Câu cuối đã có ở Chương 17.  Ở đây vì không chắc là nói về việc trị dân, cho nên có thể dịch là:

– Lòng tin ở đạo không đủ, cho nên có sự không tin,

– Hoặc mình không tin mình thì người không tin mình, dẫu có nói nhiều cũng vô ích; như vậy ứng với câu đầu: nên ít nói để hợp với đạo.

Chương này, xét từng câu thì nghĩa dễ hiểu.  Nhưng tìm liên lạc giữa các ý thì rất khó, mỗi người đưa ra một cách giảg; cách nào cũng không xuôi.  Chẳng hạn có người giảng:

Người học đạo phải hòa đồng với đạo mà đạo tức thiên nhiên không nói (trời đất nói gì đâu mà mọi vật đều thành tựu), vậy ta cũng nên ít nói, đừng để “nổi” lên những cơn mưa bão trong lòng” (!).  Hòa đồng với đạo thì sẽ vui được đạo; muốn vậy phải dốc lòng tin đạo.

 

Chương 24

 

Phiên âm:

 

Xí giả bất lập ﹔khoá giả bất hành ﹔tự hiện giả bất minh ﹔tự thị giả bất chương ﹔tự phạt giả bất công ﹔tự khoa giả bất trường .

Kì tại (ư) đạo dã viết: dư thực chức hành (hình) , vật hoặc ố chi , cố hữu đạo giả bất xử (cư) .

 

  Dịch nghĩa:

 

Kẻ kiểng chân không đứng được (vững), kẻ xoạc cẳng không đi được (lâu), kẻ tự biểu hiện thì không sáng tỏ, kẻ tự cho là phải thì không chói lọi, kẻ tự kể công thì không có công, kẻ tự phụ thì không trường cửu.  Đối với đạo thì những thái độ đó là “những đồ ăn thừa, những cục bướu, ai cũng ghét”.  Cho nên kẻ theo đạo không làm như vậy.

 

   Lời bàn:

 

Ý trong câu thừ nhì: “Tự hiệu giả minh … tự khoa giả bất trường” đã được diễn trong Chương 22.

Câu thứ ba, nhiều nhà cho chữ hành với chữ hình đọc giống nhau, dùng thay cho nhau được.  Chúng tôi theo chủ trương đó.  Có người dịch là việc làm, chức hành là việc làm thừa, như kiểu vẽ rắn thêm chân.

Nguồn: Đạo Đức Kinh – Lão Tử – phiên âm và bản dịch của Lê Hiếu

 

Nghiên cứu tôn giáo
Ta có thể ẩn mình trong vỏ hạt dẻ những vẫn là Thượng Đế của vũ trụ vô biên.
Share:
Nghiên cứu tôn giáo

Leave a reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *